CHỈ ĐỊNH
Triệu chứng tiểu không tự chủ do thôi thúc (tiểu són); và/ hoặc tiểu nhiều lần và tiểu gấp ở bệnh nhân bị hội chứng bàng quang tăng hoạt động.
DƯỢC LỰC HỌC
Nhóm dược lý: Chất chống co thắt đường tiết niệu.
Solifenacin là một chất đối kháng cạnh tranh, đặc hiệu thụ thể cholinergic.
Bàng quang hoạt động được nhờ thần kinh phó giao cảm thuộc hệ cholinergic. Acetylcholin làm co cơ trơn bàng quang thông qua các thụ thể muscarin, trong đó phân nhóm M3 có liên quan chủ yếu. Các nghiên cứu về dược lý in vitro và in vivo cho thấy solifenacin là một chất ức chế cạnh tranh thụ thể muscarin phân nhóm M3. Ngoài ra, solifenacin cho thấy là một chất đối kháng đặc hiệu đối với thụ thể muscarin, biểu thị ở ái lực thấp hoặc không có ái lực đối với các thụ thể khác nhau và kênh ion qua thử nghiệm.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu:
Sau khi uống viên nén solifenacin succinat, nồng độ đỉnh đạt được sau 3 - 8 giờ. Thời gian đạt nồng độ đỉnh không phụ thuộc vào liều. Cmax và AUC tăng tỷ lệ thuận trong khoảng liều 5 - 40 mg. Sinh khả dụng tuyệt đối khoảng 90%.
Dùng thức ăn không ảnh hưởng đến Cmax và AUC của solifenacin.
Phân bố:
Thể tích phân bố biểu kiến của solifenacin sau khi tiêm tĩnh mạch là khoảng 600 L. Solifenacin gắn với protein huyết tương khoảng 98%, chủ yếu là α1-acid glycoprotein.
Chuyển hóa:
Solifenacin được chuyển hóa mạnh bởi gan, chủ yếu bởi CYP3A4. Tuy nhiên cũng có những con đường chuyển hóa khác của solifenacin. Sau khi uống, 1 chất chuyển hóa có hoạt tính (4R-hydroxy solifenacin) và 3 chất chuyển hóa không có hoạt tính (dạng N-glucuronid, N-oxyd và 4R-hydroxy-N-oxyd của solifenacin) đã được xác định trong huyết tương cùng với solifenacin.
Thải trừ:
Độ thanh thải toàn thân của solifenacin khoảng 9,5 L/ giờ và thời gian bán thải của solifenacin là 45 - 68 giờ.
Sau khi uống một liều 10 mg solifenacin đánh dấu 14C, khoảng 70% chất phóng xạ được phát hiện trong nước tiểu, 23% trong phân sau 26 ngày. Trong nước tiểu, khoảng 11% chất phóng xạ được thu hồi dưới dạng ban đầu không đổi; Khoảng 18% dưới dạng chất chuyển hóa N-oxyd, 9% dưới dạng chất chuyển hóa 4R-hydroxy-N-oxyd và 8% dưới dạng chất chuyển hóa 4R-hydroxy (chất chuyển hóa có hoạt tính).
Sự tuyến tính
Dược động học của thuốc tuyến tính trong khoảng liều điều trị.
Đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều theo tuổi của bệnh nhân. Các thông số dược động học khác nhau không đáng kể giữa người cao tuổi so với người trẻ tuổi khỏe mạnh. Sự khác nhau vừa phải này được cho là không có ý nghĩa về lâm sàng.
Bệnh nhân suy thận
Ở bệnh nhân suy thận nhẹ và trung bình, AUC và Cmax của solifenacin không khác nhau có ý nghĩa so với người tình nguyện khỏe mạnh. Ở bệnh nhân suy thận nặng (ClCr ≤ 30 mL/ phút) phơi nhiễm với solifenacin cao hơn đáng kể (tăng Cmax khoảng 30%, tăng AUC hơn 100% và tăng thời gian bán thải hơn 60%). Đã quan sát thấy mối liên quan thống kê giữa hệ số thanh thải creatinin và thanh thải solifenacin.
Dược động học trên bệnh nhân thẩm phân máu chưa được nghiên cứu.
Bệnh nhân suy gan
Ở bệnh nhân suy gan trung bình (chỉ số Child-Pugh từ 7 - 9), Cmax không bị ảnh hưởng, AUC tăng 60% và t1/2 tăng gấp đôi. Chưa có nghiên cứu dược động học của solifenacin ở bệnh nhân suy gan nặng.