Cách sử dụng thuốc
Thuốc được dùng dưới nhiều dạng và nhiều cách khác nhau, cách sử dụng thuốc tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ trầm trọng của bệnh, cơ quan bị bệnh, tính phù hợp của thuốc, thời gian và vận tốc tác dụng của thuốc.
Đào thải thuốc
Lượng thuốc uống không được hấp thu hết vào ruột, sẽ được thải ra ngoài qua phân. Thuốc dùng đường máu, sẽ được bài tiết qua thận, trong nước tiểu. Một số thuốc bị các men gan phân cắt thành dạng không hoạt động, sau đó mới được thải ra ngoài.
Tính phù hợp
Nếu điều trị tiến triển thuận lợi loại thuốc đang dùng sẽ được cho tiếp trong suốt thời gian điều trị bệnh. Có khoảng 2/5 số bệnh nhân không dùng thuốc đúng cách, có thể do: bệnh nhân không hiểu lời hướng dẫn của bác sĩ, hoặc sợ các phản ứng phụ của thuốc, hoặc vì không thích uống loại thuốc đó.
Tác dụng qua lại (tương tác thuốc)
Nhiều loại thuốc khio sử dụng kết hợp với nhau hoặc khi dùng chung với thức ăn hoặc với rượu có thể gây ra các tác dụng khác khi dùng riêng lẻ. Tác dụng qua lại này do các thuốc có thành phần hoá học khác nhau tác động lên cùng một thụ thể. Hoặc thuốc làm thay đổi cách hấp thụ, phân cách hoặc bài tiết của thuốc khác.
Bác sĩ thường dùng tác dụng này làm tăng hiệu quả điều trị. Thường kết hợp nhiều loại thuốc để điều trị nhiễm trùng ung thư hoặc cao huyết áp. Tuy nhiên, đôi khi kết hợp thuốc cũng gây ra các bất lợi như làm giảm tác dụng của một loại thuốc hoặc làm tăng nồng độ của một thuốc trong máu và gây ra các tác dụng phụ.
Bệnh nhân đang dùng một loại thuốc lâu dài, nên có một tấm thẻ ghi tương tác thuốc của loại thuốc mình đang sử dụng để dự phòng trong những trường hợp khẩn cấp. Bệnh nhân cũng nên nhắc cho bác sĩ biết các loại thuốc đang sử dụng, để phòng ngừa tương tác thuốc với loại thuốc mà bác sĩ mới cho thêm.
Tác dụng phụ
Hấu hết các thuốc đều có tác dụng phụ.- là những tác dụng hại hoặc những tác dụng xấu.những tác dụng phụ có thể được chia ra thành: tác dụng phụ có thể dự đoán (do cấu trúc hoá gọc của thuốc), và tác dụng phụ ngoài dự đoán( không có liên hệ với tác dụng hoá học của thuốc lên tế bào).
Rất khó có thể tạo ra những loại thuốc chỉ có tác dụng trên một cơ quan đích duy nhất. Các triệu chứng do thuốc tác dụng trên những cơ quan khác ngoài ý muốn gọi là các tác dụng phụ có thể dự đoán trước . Ví dụ : thuốc kháng sinh cholin được dùng điều trị giảm co cơ đường ruột, có tác dụng phụ là gây nhìn kém và khô miệng. Các triệu chứng này có thể mất khi cơ thể dung nạp được với thuốc. Nếu không phải giảm liều thuốc hoặc tăng khoảng cách thời gian giữa hai lần cho thuốc.
Các bệnh gan, thận làm giảm khả năng hấp thu, phân huỷ, bài tiết thuốc, do đó làm tăng nồng độ thuốc trong máu, làm tăng nguy cơ các tác dụng phụ có thể dự đoán.
Tác dụng phụ ngoài dự đoán do các rối loại di truyền (ví dụ: thiếu một loại men đặc biệt để làm bất hoạt thuốc), do phản ứng dị ứng, hoặc do tạo ra các kháng thể gây tổn thương mô cơ thể. Tác dụng phụ loại này thường làm nổi ban , sưng mắt, vàng da. Đôi khi có thể bị sốc phản vệ (phản ứng dị ứng nặng)., bệnh nhân bị khó thở và suy hô hấp. Khi dùng các tác dụng phụ loại này phải ngưng dùng thuố ngay.
Nhiều loại thuốc có thể đi qua nhau thai và một số có sự ảnh hưởng lên sự phát triển của thai. Hầu hết các thuốc đi qua đường sữa mẹ, và một số gây các tác dụng phụ cho trẻ.
Thuốc chỉ có ích khi tác dụng cò lợi của thuốc đối với bệnh nhân lấn át nguy cơ và mức độ nặng của các tác dụng phụ. Một khuynh hướng nghiên cứu các thuốc mới hiện nay là tìm ra các loại thuốc có tác dụng chọn lọc trên cơ quan đích, nhằm loại bỏ các tác dụng phụ không mong muốn lên các mô khác trong cơ thể.
Ngoài ra, một số thuốc có thể gây nghiện (xem thuốc, nghiện).
Các dạng thuốc
* Thuốc uống: gồm thuốc viên nén và thuốc nước, được tiêu hoá và hấp thu trong ruột giống như cách ruột tiêu hoá và hấp thu chất dinh dưỡng. Tác dụng nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào mức độ hấp thu của ruột. Qúa trình hấp thu cũng phụ thuộc vào thành phần thuốc, sự hoà tan của thuốc và ảnh hưởng của các dịch tiêu hoá lên thuốc.
* Thuốc tiêm: thuốc có tác dụng nhanh. Cho thuốc lên đường tiêm đối với các thuốc có thể bị dịch tiêu hoá phân huỷ khi dùng đường uống.
* Thuốc dùng tại chỗ: (dạng thuốc mỡ, thuốc nhét, thuốc xịt, thuốc hít): thuốc này thường có tác dụng tại chỗ trên phần cơ thể tiếp xúc với thuốc, nhưng cũng có tác dụng toàn thân nếu thuốc được hấp thu từ vị trí tại chỗ vào máu. Thuốc nhét hậu môn (toạ dược) ngoài tác dụng tại chỗ (như trong điều trị bệnh trĩ) còn được dùng đưa hoạt chất thấm vào niêm mạc trực tràng, vào máu, qua gan, về tim để có tác dụng toàn thân (như thuốc nhét hậu môn trị sốt , giảm đau...), thuốc xịt và hít vào miệng hay mũi , ngòai một số thuốc có tác dụng tại chỗ (như trong điều trị viêm họng viêm mũi), còn có một số thuốc được hấp thu qua niêm mạc miệng vào máu, qua nhiêm mác đường hô hấp (như thuốc làm giãn phế quản trị suyễn).