Cholesterol cao không có triệu chứng. Xét nghiệm máu là cách duy nhất để phát hiện bệnh.
Lượng Cholesterol trong máu nhỏ hơn hoặc bằng 200 mg/dl được coi là trong mức độ an toàn. Nếu mức độ cholesterol trong máu hơn 200mg/dl thì được coi là cholesterol máu cao.
2. Nguyên nhân Cholesterol máu cao
Cholesterol trong máu thường gắn với protein. Sự kết hợp giữa protein và cholesterol được gọi là lipoprotein. Có nhiều loại cholesterol khác nhau, dựa trên chất lipoprotein mang theo.
- Cholesterol toàn phần – Tổng lượng cholesterol trong máu, bao gồm cả cholesterol “tốt” và “xấu”
- Lipoprotein mật độ thấp (LDL) hay cholesterol "xấu". Cholesterol LDL tích tụ trong thành động mạch gây xơ vữa và hẹp động mạch.
- Lipoprotein mật độ cao (HDL). HDL, hay cholesterol "tốt", lấy cholesterol dư thừa và đưa nó trở lại gan.
Các yếu tố như lười vận động, béo phì và chế độ ăn uống không lành mạnh - góp phần làm tăng cholesterol cao và cholesterol HDL thấp. Ngoài ra yếu tố về di truyền cũng liên quan đến cholesterol máu cao.
3. Biến chứng của cholesterol máu cao
Cholesterol cao có thể gây ra sự tích tụ nguy hiểm của cholesterol và các chất lắng đọng khác trên thành động mạch làm giảm lưu lượng máu qua các động mạch, gây ra các biến chứng, chẳng hạn như:
Đau ngực. Nếu các động mạch cung cấp máu cho tim (động mạch vành) bị ảnh hưởng, người bệnh có thể bị đau ngực (đau thắt ngực) và các triệu chứng khác của bệnh động mạch vành.
Đau tim. Nếu mảng bám bị rách hoặc vỡ, cục máu đông có thể hình thành tại vị trí vỡ mảng bám - chặn dòng máu hoặc phá vỡ tự do và cắm một động mạch xuôi dòng. Nếu máu chảy đến một phần tim ngừng lại gây đau tim.
Đột quỵ. Tương tự như cơn đau tim, đột quỵ xảy ra khi cục máu đông chặn lưu lượng máu đến một phần não.
(adv)
4. Phòng ngừa cholesterol máu cao
Thay đổi lối sống lành mạnh có thể làm giảm cholesterol giúp ngăn ngừa bạn bị cholesterol cao ngay từ đầu. Tốt nhất bạn nên:
Ăn chế độ ăn ít muối, tăng cường trái cây, rau và ngũ cốc
Hạn chế lượng mỡ động vật và sử dụng chất béo tốt ở mức độ vừa phải
Giảm cân và duy trì cân nặng khỏe mạnh
Bỏ hút thuốc lá
Tập thể dục vào hầu hết các ngày trong tuần trong ít nhất 30 phút
Uống rượu điều độ, nếu có
Quản lý căng thẳng
5. Các thuốc điều trị cholesterol cao
Thay đổi lối sống được cho là hàng phòng thủ đầu tiên chống lại cholesterol cao. Tuy nhiên, nếu đã thực hiện các biện pháp trên mà mức cholesterol vẫn cao thì cần phải điều trị bằng thuốc.
Việc lựa chọn thuốc hoặc kết hợp các loại thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm các yếu tố nguy cơ cá nhân, tuổi tác, sức khỏe và các tác dụng phụ của thuốc. Một số nhóm thuốc chủ yếu bao gồm:
Các Statin.
Statin có cấu trúc giống HMG-CoA, khi vào cơ thể gây ức chế cạnh tranh với HMG-CoA-reductase làm giảm tổng hợp cholesterol ở gan. Statin cũng có thể giúp cơ thể hấp thụ cholesterol tích lũy trên thành động mạch, có khả năng đảo ngược bệnh động mạch vành.
Các thuốc trong nhóm này gồm: lovastatin (Altoprev), atorvastatin (Lipitor), fluvastatin (Lescol XLpitavastatin (Livalo), Pravastatin (Pravachol), simvastatin (Zocor) và rosuvastatin (Crestor)).
Nhựa trao đổi ion
Gan sử dụng cholesterol để tạo ra axit mật, một chất cần thiết cho tiêu hóa. Các loại thuốc cholestyramine (Prevalite), colesevelam (Welchol) và colestipol (Colestid) làm giảm cholesterol gián tiếp bằng cách liên kết với axit mật.
Thuốc ức chế hấp thu cholesterol
Ruột non hấp thụ cholesterol từ chế độ ăn và giải phóng vào máu. Thuốc ezetimibe (Zetia) giúp giảm cholesterol trong máu bằng cách hạn chế sự hấp thụ cholesterol trong chế độ ăn uống. Ezetimibe có thể được sử dụng phối hợp với thuốc statin.
Thuốc tiêm.
Một nhóm thuốc mới hơn, được gọi là chất ức chế PCSK9, có thể giúp gan hấp thụ nhiều cholesterol LDL hơn - làm giảm lượng cholesterol lưu thông trong máu.
Alirocumab (Praluent) và evolocumab (Repatha) có thể được sử dụng cho những người có tình trạng di truyền gây ra mức độ LDL rất cao hoặc ở những người có tiền sử bệnh mạch vành không dung nạp statin/ các loại thuốc cholesterol khác.