Nghe nói, thuốc này cấp cứu tai biến mạch máu não rất
tốt, mỗi gia đình đều cần dự trữ ít nhất một viên phòng khi nguy cấp,
ngoài ra thuốc còn có thể dùng để dự phòng tai biến mạch máu não...
Xin cho biết: Khi sử dụng An cung ngưu hoàng hoàn cần chú ý những vấn đề gì? Thuốc có độc và tác dụng phụ nguy hiểm?
(Câu hỏi của nhiều độc giả)
+ Đáp:
Nhờ có tác dụng nhanh và hiệu quả rõ rệt, “An cung
ngưu hoàng hoàn” (ACNHH) đã trở thành một loại thuốc quý của Đông y,
dùng để cấp cứu trong các trường hợp bị hôn mê, rối loạn thần chí trong
các bệnh sốt cao, viêm não, tai biến mạch máu não ... ACNHH vốn là
bài thuốc cổ, do danh y Ngô Cúc Thông, đời Thanh (Trung Quốc) bào chế
và được ghi trong sách “Ôn bệnh điều biện”; Thành phần của ACNHH gồm: Ngưu hoàng 30g, uất kim 30g, tê giác 30g, hoàng cầm
30g, hoàng liên 30g, hùng hoàng 30g, sơn chi 30g, chu sa 30g, mai phiến
7g, xạ hương 5g, trân châu 15g. Tất cả tán bột thật mịn, luyện với mật
làm viên, mỗi viên 3g, lấy vàng lá làm áo, bao sáp.
Từ nhiều năm nay, vì tê giác đã trở thành động vật quý
hiếm, đưa vào sách đỏ, cấm săn bắt, nên sừng tê giác đã được thay bằng
bột sừng trâu cô đặc, mà vẫn có tác dụng tốt như khi dùng tê giác.
Theo Đông y, ACNHH có tác dụng thanh nhiệt giải độc,
trấn kinh, khai khiếu, hoát đàm (trừ đờm). Chủ trị nhiệt tà nội hãm tâm
bào trong ôn nhiệt bệnh, đàm nhiệt nghẽn tắc tâm khiếu, dẫn đến các
triệu chứng: sốt cao phiền táo, hôn mê, nói sàm, hoặc lưỡi rụt, tay
chân lạnh toát.
Do tác dụng cấp cứu nhanh và hữu hiệu, từ xưa thuốc đã
được xếp hàng đầu trong “Ôn bệnh tam bảo” (3 loại thuốc quý chữa ôn
bệnh, bao gồm ACNHH , “Chí bảo đan” và “Tử tuyết đan”).
Trong Đông y, “cung” chỉ “Tâm bào cung”. “Tâm bào” là
cơ quan bọc ngoài tâm (tim). Ôn nhiệt tà độc khi xâm phạm vào tâm, trước
hết tác động đến tâm bào. ACNHH là thuốc có khả năng giải trừ tình
trạng “đàm nhiệt nội hãm tâm bào”, dẫn tới hôn mê, thần minh nhiễu
loạn (rối loạn thần kinh trung ương), tê liệt, nói sàm, chân tay quyết
lạnh ... Thuốc có tác dụng giải trừ bệnh lý ở tâm bào (an cung) và thành
phần quan trọng nhất là “ngưu hoàng”, nên được đặt tên là “An cung
ngưu hoàng hoàn”.
Những năm gần đây ACNHH được sử dụng để cấp cứu và điều
trị đột quỵ, nhồi máu não rất hiệu quả và nhanh chóng. Nhiều người bị
hôn mê, tiên lượng rất xấu, uống ACNHH đã tỉnh lại và sức khỏe dần dần
hồi phục. Tuy nhiên, ACNHH không phải là “thần dược chữa đột quỵ” và
không thể áp dụng trong tất cả các trường hợp đột quỵ – tai biến mạch
máu não.
Đột quỵ tương ứng với bệnh “Trúng phong” trong Đông y.
Trúng phong là bệnh có bệnh cơ và triệu chứng hết sức phức tạp. Căn cứ
vào nguyên nhân và chứng trạng cụ thể, Trúng phong được Đông y chia
thành những loại hình (thể bệnh) khác nhau; đối với mỗi thể bệnh cần áp
dụng những phương pháp, bài thuốc thích hợp, mới có thể mang lại hiệu
quả mong muốn.
Nói cụ thể hơn, trên lâm sàng Trúng phong được phân
chia thành hai loại hình (thể bệnh) lớn: Trúng kinh lạc và Trúng tạng
phủ. Mỗi thể lớn lại được phân thành một số thể nhỏ. Trúng tạng phủ
được chia thành 2 thể nhỏ: “Nhiệt bế” (Dương bế) và “Hàn bế” (Âm bế).
Thuốc ACNHH chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp “Nhiệt bế” – Với các
triệu chứng chính: Đột nhiên hôn mê bất tỉnh nhân sự, hai hàm răng cắn
chặt, miệng mím chặt, hai tay nắm chặt, thân và tứ chi co cứng; Mặt đỏ
người nóng, thở thô, miệng hôi, phiền táo , rêu lưỡi vàng nhớt, mạch
huyền hoạt.
Nói chung, khi sử dụng ACNHH ít nhất cần chú ý đến bốn vấn đề sau:
1. Chống chỉ định 1: Hôn mê kèm theo các triệu chứng:
Mặt trắng bệch, môi tái nhợt, nằm yên bất động, rêu lưỡi trắng nhớt, tay
xòe, chân tay lạnh, mồ hôi trán dính như dầu, chất lưỡi trắng nhớt, ...
đó là “hàn bế”; không được uống ACNHH mà cần dùng loại thuốc có tính
năng “ôn khai”, như “Tô hợp hương hoàn” . ACNHH là bài thuốc được lập
ra để chữa trường hợp hôn mê do “nhiệt bế”, nếu sử dụng đối với “hàn bế”
sẽ khiến cho bệnh càng thêm trầm trọng..
2- Chống chỉ định 2: Trong quá trình sử dụng, nếu xuất
hiện triệu chứng sợ rét, chân tay lạnh, sắc diện trắng nhợt, vã mồ hôi
lạnh, mạch đập yếu, ... , cần lập tức ngừng sử dụng. Đó là hiện tượng
Đông y gọi là từ “bế chứng” chuyển sang “thoát chứng”.
3. Đối với phụ nữ mang thai: Trong thành phần của
ACNHH có xạ hương và ngưu hoàng là những vị thuốc dễ gây trụy thai. Do
đó, phụ nữ đang mang thai cần rất thận trọng khi sử dụng.
4. Không sử dụng quá liều: Trong thành phần của ACNHH
có chu sa và hùng hoàng là hai vị thuốc có tính độc. Chu sa có thành
phần chính là sunfua thuỷ ngân thiên nhiên (chứa thuỷ ngân (Hg) 86,2% và
sunfua (S) 13,8%); Hùng hoàng có thành phần chủ yếu là asen sunfua
(AsS) trong đó asen chiếm chừng 70,1%, sunfua 29%. Do đó không được sử
dụng với liều cao hoặc sử dụng dài ngày ACNHH. Người chức năng gan thận
không kiện toàn sử dụng càng cần thận trọng.
Lương y Hư Đan
Tri Thức Trẻ