Leucovorin

12 lượt xem Cập nhật: 21/10/2026

Dược lực

  • Leucovorin (acid folinic) là một dẫn xuất dạng khử của acid folic, có khả năng tham gia trực tiếp vào các phản ứng chuyển hóa folate mà không cần trải qua quá trình khử bởi enzym dihydrofolate reductase (DHFR).
  • Hoạt chất giúp khôi phục nguồn folate có hoạt tính trong tế bào khi enzym DHFR bị ức chế bởi methotrexate hoặc các thuốc đối kháng acid folic khác. Nhờ đó, Leucovorin hỗ trợ duy trì quá trình tổng hợp DNA, RNA và protein, đồng thời hạn chế tổn thương ở các tế bào khỏe mạnh do tác dụng độc tính của methotrexate.
  • Trong điều trị ung thư đại trực tràng, Leucovorin làm tăng hiệu quả của 5-fluorouracil (5-FU) thông qua việc ổn định phức hợp giữa chất chuyển hóa 5-FdUMP và enzym thymidylate synthase, từ đó kéo dài sự ức chế tổng hợp thymidylate cần thiết cho quá trình nhân đôi DNA của tế bào ung thư.
  • Ngoài ra, Leucovorin còn cung cấp folate cần thiết cho quá trình tạo hồng cầu, góp phần cải thiện tình trạng thiếu máu do thiếu hụt acid folic.

Dược động học

  • Hấp thu: Leucovorin có thể được sử dụng qua đường uống, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch. Khi tiêm tĩnh mạch, thuốc đi trực tiếp vào tuần hoàn, với nồng độ folate dạng khử trong huyết thanh đạt đỉnh trung bình sau khoảng 10 phút. Đối với đường tiêm bắp, thời gian đạt nồng độ đỉnh trung bình khoảng 52 phút.
  • Phân bố: Sau khi vào cơ thể, Leucovorin và các chất chuyển hóa được phân bố trong tuần hoàn và các mô. Một lượng nhỏ thuốc có thể đi vào dịch não tủy, chủ yếu dưới dạng 5-methyltetrahydrofolate (5-MTHF).
  • Chuyển hóa: Đồng phân có hoạt tính sinh học L-leucovorin nhanh chóng được chuyển hóa thành 5,10-methenyltetrahydrofolate, tiếp tục tạo thành 5,10-methylenetetrahydrofolate và cuối cùng là 5-methyltetrahydrofolate. Đây là chất chuyển hóa có hoạt tính quan trọng, tham gia vào nhiều phản ứng sinh hóa liên quan đến folate.
  • Thải trừ: Leucovorin và các chất chuyển hóa được đào thải chủ yếu qua nước tiểu. Khoảng 83% liều tiêm tĩnh mạch có hoạt tính sinh học được thu hồi trong nước tiểu sau 24 giờ, trong đó khoảng 31% ở dạng 5-methyltetrahydrofolate. Thời gian bán thải cuối của tổng lượng folate dạng khử sau khi tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp vào khoảng 6,2 giờ.

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Bình luận của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi hiển thị. Không được chèn link hoặc nội dung spam.

Chưa có bình luận nào

Hãy là người đầu tiên bình luận về nội dung này!

Gọi Zalo Facebook