Cách dùng: Thuốc dùng đường uống.
Liều dùng: Việc điều trị cần được bắt đầu bởi bác sỹ có kinh nghiệm trong việc điều trị viêm gan B mạn tính.
Bệnh nhân bị xơ gan còn bù
Bệnh nhân chưa điều trị với nucleosid:Liều khuyến cáo ở người lớn: 0,5 mg x 1 lần/ ngày.
Thời gian dùng thuốc: có thể uống cùng hoặc không cùng thức ăn.
Bệnh nhân đề kháng với lamivudin (có bằng chứng bị nhiễm vi rút viêm gan B trong máu khi đang dùng lamivudin hoặc có đột biến kháng thuốc lamivudin):
Liều khuyến cáo ở người lớn: 1 mg x 1 lần/ ngày. Thời gian dùng thuốc: uống vào lúc đói (ít nhất là 2 giờ sau khi ăn và 2 giờ trước bữa ăn kế tiếp). Nếu có đột biến kháng thuốc lamivudin, nên dùng phối hợp entecavir với một thuốc kháng vi rút khác (không có kháng chéo với lamivudin hoặc entecavir).
Bệnh nhân bị xơ gan mất bù
Liều khuyến cáo cho người lớn: 1 mg x 1 lần/ ngày.
Thời gian dùng thuốc: uống vào lúc đói (ít nhất là 2 giờ sau khi ăn và 2 giờ trước bữa ăn kế tiếp).
Thời gian điều trị Chưa rõ thời gian điều trị tối ưu. Việc ngừng điều trị có thể được xem xét ở những trường hợp sau:
- Người lớn có HBeAg dương tính, việc điều trị nên được tiến hành ít nhất đến 12 tháng sau khi có hiện tượng chuyển đảo huyết thanh HBe (HBeAg và HBV DNA giảm và xuất hiện anti-HBe trên hai mẫu huyết thanh liên tục ít nhất 3-6 tháng) hoặc cho đến khi có hiện tượng chuyển đảo huyết thanh HBs, hoặc khi hiệu quả điều trị giảm.
- Người lớn có HBeAg âm tính, nên điều trị ít nhất cho đến khi có hiện tượng chuyển đảo huyết thanh HBs hoặc khi hiệu quả điều trị giảm. Với điều trị kéo dài hơn 2 năm, nên đánh giá lại thường xuyên để xem xét liệu pháp điều trị có còn thích hợp cho bệnh nhân không. Bệnh nhân bị suy gan hoặc xơ gan: việc ngừng điều trị không được khuyến cáo.
Trẻ em
Việc điều trị entecavir cho trẻ em cần được cân nhắc kỹ lưỡng tùy từng trường hợp và phải tuân theo các hướng dẫn điều trị bệnh cho trẻ em hiện nay. Lợi ích của việc ức chế vi rút kéo dài khi dùng thuốc phải được cân nhắc so với nguy cơ điều trị kéo dài, bao gồm cả việc kháng vi rút viêm gan B.
Nồng độ ALT huyết thanh nên được tăng lên liên tục ít nhất 6 tháng trước khi điều trị bệnh xơ gan còn bù ở trẻ em do HBeAg dương tính viêm gan B mạn tính và ít nhất 12 tháng ở bệnh nhân trẻ em có HBeAg âm tính.
Trẻ em có trọng lượng cơ thể ít nhất 32,6 kg:
Với trẻ em có trọng lượng cơ thể ít nhất là 32,6 kg, nên dùng một viên 0,5 mg/ ngày, có thể uống cùng hoặc không cùng thức ăn.
Trẻ em có trọng lượng cơ thể dưới 32,6 kg:
Nên dùng entecavir dạng dung dịch uống.
Thời gian điều trị cho trẻ em:
Chưa rõ thời gian điều trị tối ưu. Theo hướng dẫn thực hành nhi khoa hiện nay, việc ngưng điều trị có thể được xem xét ở những trường hợp sau:
- Trẻ em có HBeAg dương tính, việc điều trị nên được thực hiện ít nhất 12 tháng sau khi không phát hiện được HBV DNA và có hiện tượng chuyển đảo huyết thanh HBeAg (HBeAg giảm và phát hiện anti-HBe trên hai mẫu huyết thanh liên tục ít nhất 3-6 tháng) hoặc cho đến khi có hiện tượng chuyển đảo huyết thanh HBs hoặc khi hiệu quả điều trị giảm. Nên theo dõi nồng độ ALT và HBV huyết thanh thường xuyên sau khi ngừng điều trị.
- Trẻ em có HBeAg âm tính, nên điều trị cho đến khi có hiện tượng chuyển đảo huyết thanh HBs hoặc khi hiệu quả điều trị giảm.
- Trẻ em bị suy thận, suy gan: Dược động học ở bệnh nhân trẻ em suy thận và suy gan vẫn chưa được nghiên cứu.
- Bệnh nhân cao tuổi: Không bắt buộc phải điều chỉnh liều lượng theo tuổi. Liều cần được điều chỉnh theo chức năng thận của bệnh nhân.
- Giới tính và chủng tộc: Không bắt buộc phải điều chỉnh liều lượng dựa trên giới tính hoặc chủng tộc.
Bệnh nhân suy thận:
Sự thải trừ entecavir giảm đi khi độ thanh thải creatinin giảm (xem phần Đặc tính dược động học). Cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 50 ml/ phút, bao gồm cả những người thẩm tách máu hoặc chạy thận nhân tạo liên tục (CAPD). Nên giảm liều hàng ngày bằng dung dịch uống entecavir. Trong trường hợp không có entecavir dạng dung dịch uống, liều có thể được điều chỉnh bằng cách tăng khoảng cách giữa các liều. Việc điều chỉnh liều được đề xuất dựa trên phương pháp ngoại suy từ số lượng dữ liệu còn hạn chế và sự an toàn, hiệu quả của chúng chưa được đánh giá lâm sàng. Vì vậy, việc đáp ứng của thuốc với vi rút cần được theo dõi chặt chẽ.
* Thẩm tách máu (dùng thuốc sau lọc máu) hoặc thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú (CAPD).
- Suy gan: Không cần phải điều chỉnh liều với bệnh nhân bị suy gan.
Xử lý thuốc trước khi sử dụng: - Chú ý khi ra lẻ thuốc phải cho thuốc vào bao bì riêng biệt để tránh nhầm lẫn với các loại thuốc khác. Xử lý thuốc sau khi sử dụng: - Thuốc đã dùng hết (vỉ thuốc khi đã dùng xong) hoặc thuốc không dùng hết phải được thu gom và xử lý theo đúng quy định.