HIV-1: TENOXIL được chỉ định kết hợp với thuốc kháng retrovirus khác để điều trị nhiễm HIV-1 ở bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.
Hiệu quả của TENOXIL dựa trên kết quả nghiên cứu điều trị cho các bệnh nhân chưa từng điều trị trước đó, bao gồm các bệnh nhân có số lượng virus lớn (>100.000 bản sao/ml) và các nghiên cứu trong đó TENOXIL được dùng bổ sung vào liệu pháp điều trị cơ bản (chủ yếu là liệu pháp kết hợp 3 thuốc) cho bệnh nhân trước đó đã từng điều trị thuốc chống retrovirus nhưng thất bại (<10.000 bản sao/ml, chủ yếu là bệnh nhân có <5.000 bản sao/ml).
Lựa chọn TENOXIL để điều trị cho những bệnh nhân đã từng điều trị thuốc chống retrovirus trước đó phải dựa trên kết quả thử nghiệm tính nhạy cảm của virus và/hoặc tiền sử điều trị của bệnh nhân.
Viêm gan B mạn tính: TENOXIL được chỉ định viêm gan B mạn tính ở người lớn với chức năng gan còn bù, với bằng chứng hoạt động nhân bản của virus, nồng độ alanin aminotransferase (ALT) tăng cao liên tục và bằng chứng mô học của viêm đang hoạt động và/hoặc xơ hóa.
Chỉ định này dựa trên chủ yếu đáp ứng mô học, vi rút học, hóa sinh & huyết thanh học ở bệnh nhân trưởng thành chưa điều trị bằng nucleosid với viêm gan B mạn tính HBeAg dương tính & HBeAg âm tính với chức năng gan còn bù.
CÁC ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC:
Tenofovir disoproxil fumarat(TDF) là một acyclic nucleosid phosphonat diester tương tự adenosine monophosphate. Ban đầu TDF cần đến quá trình thủy phân để chuyển thành tenofovir và sau đó phosphoryl hóa bởi enzym thuộc tế bào chuyển thành tenofovir diphosphat. Tenofovir diphosphat ức chế chế hoạt tính enzym sao chép ngược HIV-1 bằng cách thay thế chất nền tự nhiên deoxyadenosin 5’ và kết thúc chuỗi DNA sau khi hợp nhất vào DNA. Tenofovir diphosphat ức chế yếu DNA polymerase, ở động vật có vú và DNA polymerase ty thể.
CÁC ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu: Tenoxil tan trong nước tạo thành dạng diester của hoạt chất TDF. Sinh khả dụng đường uống lúc đói của TDF xấp xỉ 25 %. Sau khi uống đơn liều Tenoxil ở bệnh nhân bị HIV-1 lúc bụng đói, nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết thanh đạt được sau khoảng 1 ± 0,4 giờ, Cmax và AUC lần lượt là 296 ± 90 mg ng/mL và 2287 ± 685 ng/mL/giờ.
Đặc tính dược động học của TDF thể hiện ở liều TENOXIL khoảng từ 75 đến 600 mg và không có tác dụng ở liều lặp lại.
Phân bố: Trong thử nghiệm in vitro sự gắn kết của TDF với huyết thanh hoặc protein huyết tương người lần lượt nhỏ hơn 0,7 và 7,2, nồng độ TDF thay đổi từ 0,01 tới 25 µg/mL. Thể tích phân bố ở nồng độ đỉnh là 1,3 ± 0,6 L/kg và 1,2±0,4 L/kg và dùng đường tiêm tĩnh mạch TDF là 1,0 mg/kg và 3,0 mg/kg.
Chuyển hóa và thải trừ:
Trong thử nghiệm in vitro cho thấy cả tenofovir disoproxil và tenofovir đều là chất nền của enzym CYP450. Sau khi tiêm tĩnh mạch tenofovir, khoảng 70-80 % liều được tìm thấy trong nước tiểu ở dạng chưa chuyển hóa TDF trong vòng 72 giờ. Sau khi uống đơn liều Tenoxil, thời gian bán thải của TDF trong vòng 17 giờ. Sau khi uống đa liều Tenoxil mỗi lần/ ngày (lúc đói), 32 ± 10% liều được tìm thấy trong nước tiểu trên 24 h. Tenofovir được thải trừ bằng việc kết hợp lọc qua cầu thận và bài tiết qua ống thận. Vì thế sự cạnh tranh đào thải với những chất cũng bài tiết qua thận.