Hotline: 0971899466 nvtruong17@gmail.com
Thuốc Biệt Dược
Thuốc Mekofloquin 250mg - Viên nén bao phim - Hình ảnh sản phẩm

Mekofloquin 250mg

Đã được kiểm duyệt

Thông tin nhanh

Số đăng ký
VD-19112-13
Dạng bào chế
Viên nén bao phim
Lượt xem
879
Thành phần
Mefloquine
Quy cách đóng gói Hộp10 vỉ10 viên Hộp1 vỉ, 10 vỉ xé10 viên Hộp1chai 100v.nén b.phim

Thông tin chi tiết về Mekofloquin 250mg

Thành phần hoạt chất

1 hoạt chất

Tên hoạt chất Hàm lượng
250mg

Chỉ định

- Ðiều trị sốt rét khi đã đề kháng với các thuốc trị sốt rét khác. - Dự phòng tái phát, diệt ký sinh trùng sốt rét. - Dự phòng khi đến vùng dịch bệnh sốt rét.

Chống chỉ định

Quá mẫn với mefloquin. Trẻ < 15 kg. Không dùng dự phòng trên người suy thận, suy gan trầm trọng, rối loạn tâm thần hay co giật.

Liều lượng - Cách dùng

- Ðiều trị: Chưa miễn dịch 3 viên, sau 6-8 giờ 2 viên, nếu > 60 kg: thêm 2 viên sau 6-8 giờ tiếp theo; Ðược miễn dịch một phần 3 viên, nếu > 60 kg: thêm 2 viên sau 6-8 giờ; Trẻ < 45 kg đơn liều 25 mg/kg. - Dự phòng: uống 1 tuần trước khi đến vùng dịch: người lớn & trẻ > 45 kg 1 viên x 1 lần/tuần x 6 tuần; trẻ em uống cách quãng mỗi tuần: trẻ 15-19 kg 1/4 viên/lần; trẻ 20-30 kg nửa viên/lần; trẻ 31-45 kg 3/4 viên/lần.

Tác dụng phụ

Thoáng qua: chóng mặt, buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy, chán ăn, nhức đầu, phát ban.

Tương tác thuốc

Không dùng với quinine.

Công dụng Mekofloquin 250mg

- Ðiều trị sốt rét khi đã đề kháng với các thuốc trị sốt rét khác. - Dự phòng tái phát, diệt ký sinh trùng sốt rét. - Dự phòng khi đến vùng dịch bệnh sốt rét.

Thông tin từ hoạt chất: Mefloquin

Các thông tin dược lý, dược động học và tác dụng của hoạt chất chính

Dược lực Mefloquin

Mefloquin là thuốc chống sốt rét chỉ có tác dụng diệt thể phân liệt giai đoạn hồng cầu trong máu của người bệnh sốt rét do P.falciparum, P.Vivax. P. Malariae, P.ovale.

Dược động học Mefloquin

- Hấp thu: Khả dụng sinh học tuyệt đối của mefloquin không được xác định vì thuốc không có dạng tiêm tĩnh mạch. Sinh khả dụng của dạng viên so với dạng dung dịch uống là trên 85%. Sự có mặt của thức ăn làm tăng rõ rệt chỉ số này và kéo dài thời gian hấp thu, dẫn tới tăng khoảng 40% sinh khả dụng. Ðỉnh nồng độ trong huyết tương đạt được từ 6-24 giờ (trung bình khoảng 17 giờ); sau khi dùng một liều đơn Mefloquin. Nồng độ tối đa trong huyết tương tính theo mcg/l là tương đương với liều tính theo miligram. - Phân bố: Trên người trưởng thành khỏe mạnh, thể tích phân bố rõ ràng là vào khoảng 20 l/kg cho thấy sự phân bố rất tốt trong tổ chức. Mefloquin có thể tích lũy trong hồng cầu có chứa ký sinh trùng với một tỷ lệ từ hồng cầu tới huyết tương là khoảng 2 lần. Mefloquin qua được nhau thai. Việc bài tiết vào sữa mẹ hình như rất ít. - Chuyển hóa: Hai chất chuyển hóa đã được nhận dạng trên người. Chất chuyển hóa chính là 2,8-bis-trifluoromethyl-4-quinoline carboxylic acid không có hoạt lực với P. falciparum. - Thải trừ: Mefloquin được bài tiết chủ yếu qua mật và phân. Trẻ em và người già: không thấy sự thay đổi rõ rệt liên quan đến tuổi về mặt dược động học của mefloquin. Vì vậy, liều cho trẻ em được ngoại suy từ liều chỉ định cho người lớn. Không có nghiên cứu nào về dược động học được tiến hành trên bệnh nhân suy thận vì chỉ có một tỉ lệ nhỏ thuốc được đào thải qua thận. Thai nghén không có ảnh hưởng lâm sàng rõ rệt về dược động học của mefloquine. Dược động học của mefloquin có thể bị ảnh hưởng trong sốt rét ác tính.

Tác dụng Mefloquin

Mefloquin tác dụng trên thể vô tính nội hồng cầu của ký sinh trùng sốt rét trên người: Plasmodium falciparum. P. vivax, P. malariae và P. ovale. Mefloquine cũng có tác dụng trên các ký sinh trùng sốt rét kháng lại các thuốc chống sốt rét khác như cloroquine, proguanil, pyrimethamine và phối hợp pyrimethamine-sulfonamide.Sự kháng lại mefloquine của P. falciparum đã được báo cáo, chủ yếu ở vùng Ðông Nam Á. Cũng gặp sự kháng chéo giữa mefloquine và halofantrinevà sự kháng chéo giữa mefloquine và quinine cũng đã được ghi nhận ở một số vùng.

Chỉ định Mefloquin

Dự phòng, điều trị và điều trị chờ đợi sốt rét. Dự phòng: Hóa dự phòng với Mefloquine được chỉ định cho những người đi du lịch đến vùng có sốt rét, đặc biệt ở những vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao với chủng P. falciparum kháng với những thuốc chống sốt rét khác. Ðiều trị: Mefloquine được chỉ định trong điều trị sốt rét bằng đường uống, đặc biệt khi nguyên nhân gây ra bởi chủng P. falciparum kháng với những thuốc chống sốt rét khác. Thuốc cũng có thể được sử dụng để điều trị P. vivax và bệnh sốt rét hỗn hợp. Ðiều trị chờ đợi: Mefloquine được chỉ định như một trị liệu chờ đợi cho những người du lịch và tự dùng như một biện pháp cấp cứu khi nghi ngờ sốt rét mà không có sẵn thuốc ở các cơ sở y tế trong vòng 24 giờ.

Liều dùng Mefloquin

Mefloquine có vị đắng và hơi bỏng rát. Nên nuốt trọn viên Mefloquine với ít nhất một cốc nước. Viên thuốc có thể được nghiền và hòa lẫn với một lượng nhỏ nước, sữa hoặc đồ uống khác để dùng cho trẻ nhỏ hoặc cho những người không thể nuốt được toàn bộ viên thuốc. Liều hàng tuần cần được uống đều đặn, luôn vào một ngày của từng tuần, tốt nhất là sau bữa ăn chính. Liều đầu tiên nên dùng ít nhất một tuần trước khi đến vùng có dịch. Kinh nghiệm với Mefloquine cho trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi và nặng dưới 5 kg còn hạn chế. Liều cho trẻ lớn được ngoại suy từ liều chỉ định cho người lớn. Chỉ dẫn liều đặc biệt: Ðối với những người du lịch sắp tới vùng có nguy cơ cao, nếu việc điều trị dự phòng một tuần trước khi tới vùng dịch là không thể được thì phải dùng "liều tải" bao gồm liều uống hàng tuần cho mỗi ngày trong 3 ngày liên tiếp, sau đó, dùng liều chuẩn hàng tuần

Chống chỉ định Mefloquin

Chống chỉ định sử dụng Mefloquine ở những bệnh nhân đã biết có tiền sử quá mẫn cảm với mefloquine hoặc những chất có liên quan (như quinine và quinidine) hoặc bất kỳ một tá dược nào có trong thành phần thuốc. Mefloquine không nên được chỉ định dùng dự phòng ở những bệnh nhân trầm cảm hoặc có tiền sử tâm thần hoặc co giật.

Tương tác Mefloquin

Dùng phối hợp Mefloquine và các thuốc có liên quan khác (như quinine, quinidine và cloroquine) có thể gây ra các bất thường trên điện tâm đồ và làm tăng nguy cơ co giật. Người ta cũng thấy rõ rằng dùng halofantrine sau mefloquine gây ra kéo dài rõ rệt khoảng QTc. Trên những bệnh nhân đang dùng thuốc chống co giật (như acid valproic, carbamazepines, phenobarbital hoặc phenytoin), dùng phối hợp với Mefloquine có thể làm giảm tác dụng kiểm soát cơn động kinh vì làm giảm nồng độ trong huyết tương của các thuốc chống co giật. Trong một số trường hợp có thể cần dùng thêm liều của thuốc chống co giật. Khi dùng phối hợp Mefloquine với vaccin sống chống thương hàn, không loại trừ được việc làm giảm miễn dịch. Do vậy dùng vaccin với các vi khuẩn sống giảm độc cần được kết thúc ít nhất 3 ngày trước khi dùng liều Mefloquine đầu tiên.

Tác dụng phụ Mefloquin

Những tác dụng phụ hay gặp nhất đã được báo cáo là buồn nôn, nôn, phân nhão hoặc tiêu chảy và đau bụng, chóng mặt hoặc hoa mắt, mất thăng bằng, các phản ứng phụ về tâm thần kinh như đau đầu, buồn ngủ, rối loạn giấc ngủ (mất ngủ, mơ mộng không bình thường). Những tác dụng phụ ít gặp: Các rối loạn tâm thần kinh: bệnh thần kinh về cảm giác và vận động (bao gồm cả dị cảm, run, thất điều), co giật, kích động hoặc bồn chồn, lo âu, trầm cảm, thay đổi tâm trạng, hoảng sợ, hay quên, lú lẫn, ảo giác và các phản ứng tâm thần và phản ứng paranoid. Hiếm có ghi nhận về ý định tự tử nhưng không có mối liên hệ với việc uống thuốc. Rối loạn hệ tim mạch: rối loạn tuần hoàn (hạ huyết áp, tăng huyết áp, bốc hỏa, ngất), đau ngực, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, nhịp tim chậm, mạch không đều, ngoại tâm thu và những thương tổn khác về dẫn truyền tim. Da: nổi mẩn, ngoại ban, ban đỏ, mày đay, ngứa, chàm, rụng tóc. Hệ cơ xương: yếu cơ, chuột rút, đau cơ, đau khớp. Các triệu chứng khác: rối loạn thị lực, rối loạn tiền đình bao gồm ù tai và suy giảm thính lực, khó thở, suy nhược, khó chịu, mệt mỏi, sốt, ra mồi hôi, ớn lạnh, khó tiêu, chán ăn. Những bất thường về xét nghiệm: tăng các men gan thoáng qua, giảm bạch cầu hoặc tăng bạch cầu, giảm tiểu cầu. Cá biệt có trường hợp gặp hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson, block nhĩ thất và bệnh não.

Thận trọng lúc dùng Mefloquin

Cũng như phần lớn các thuốc khác, phản ứng quá mẫn thay đổi từ phản ứng da nhẹ tới phản vệ không thể dự đoán trước được. Trên những bệnh nhân có động kinh, Mefloquine có thể làm tăng nguy cơ co giật. Với những bệnh nhân có suy chức năng gan, việc đào thải mefloquine có thể bị kéo dài, dẫn tới tăng nồng độ của thuốc trong huyết tương. Nếu có các triệu chứng lo âu cấp tính, trầm cảm, thao thức hoặc lẫn xuất hiện trong quá trình điều trị dự phòng, cần dừng Mefloquine và cần một thuốc khác để điều trị dự phòng thay thế. Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc: Nếu bệnh nhân thấy chóng mặt, mất thăng bằng hoặc những rối loạn khác của hệ thần kinh trung ương và ngoại biên thì nên thận trọng khi lái xe, lái may bay, vận hành máy móc, thợ lặn, hoặc các hoạt động cần phải phối hợp các động tác nhanh nhẹn, chính xác. LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ Khi dùng liều cao hơn 5-20 lần so với liều điều trị ở người, mefloquine gây quái thai ở chuột và nhiễm độc thai ở thỏ; tuy nhiên, kinh nghiệm sử dụng Mefloquine trên lâm sàng không gây ra quái thai hoặc nhiễm độc thai. Tuy vậy Mefloquine chỉ sử dụng ở 3 tháng đầu của thai kỳ khi các lợi ích có thể biện hộ được cho những nguy cơ tiềm tàng đối với thai. Phụ nữ trong tuổi sinh đẻ nên được khuyên dùng biện pháp tránh thai trong khi điều trị dự phòng đối với sốt rét bằng Mefloquine và cho 3 tháng tiếp theo. Tuy nhiên, trong trường hợp có thai ngoài ý muốn, hóa dự phòng đối với sốt rét bằng Mefloquine không được chỉ định cho tới kết thúc thai kỳ. Mefloquine được bài tiết vào trong sữa mẹ với một lượng rất thấp, ảnh hưởng của nó còn chưa được biết. Do vậy các bà mẹ đang dùng Mefloquine không nên cho con bú.

Hỗ trợ khách hàng

Hotline: 0971899466

Hỗ trợ 24/7 - Miễn phí tư vấn

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Bình luận của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi hiển thị. Không được chèn link hoặc nội dung spam.

Chưa có bình luận nào

Hãy là người đầu tiên bình luận về nội dung này!

Gọi Zalo Facebook