Dược động học Doripenem
Dược động học của doripenem (nồng độ tối đa Cmax và diện tích dưới đường cong AUC) tuyến tính trong khoảng liều 500 mg đến 1 g khi truyền tĩnh mạch trong khoảng 1 hoặc 4 giờ. Không có sự tích lũy doripenem sau khi truyền tĩnh mạch lặp lại với liều 500 mg hoặc 1 g mỗi 8 giờ trong 7 tới 10 ngày ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường.
Dược động học đơn liều doripenem (sau khi tiêm truyền kéo dài 4 giờ) ở người lớn bị xơ nang giống như những người không bị xơ nang. Chưa có các nghiên cứu kiểm chứng và thích hợp chứng minh tính an toàn và hiệu quả của doripenem trong bệnh nhân bị xơ nang.
Phân bố: Trung bình, khoảng 8,1% doripenem gắn với protein huyết tương và tỉ lệ này không phụ thuộc nồng độ thuốc trong huyết tương. Thể tích phân bố ở trạng thái bão hoà khoảng 16,8 L, gần bằng thể tích dịch ngoại bào ở người (18,2 L). Doripenem thấm tốt vào một số dịch và mô cơ thể như mô tử cung, dịch sau màng bụng, mô tiền liệt tuyến, mô túi mật và nước tiểu, đạt nồng độ cao hơn nồng độ cần thiết để ức chế hầu hết các vi khuẩn.
Chuyển hóa: Doripenem được chuyển hóa chủ yếu nhờ dehydropeptidase-I tạo thành chất chuyển hóa mở vòng không có hoạt tính trên vi sinh vật. Không phát hiện được chuyển hóa của doripenem in vitro, thông qua CYP450 hoặc các cách khác, có hoặc không có NADPH.
Thải trừ: Doripenem thải trừ chủ yếu dưới dạng không đổi qua thận. Thời gian bán thải cuối cùng trung bình trên người trưởng thành khỏe mạnh của doripenem khoảng 1 giờ và độ thanh thải huyết tương khoảng 15,9 L/giờ. Độ thanh thải qua thận trung bình khoảng 10,3 L/giờ. Giá trị này phản ánh mức độ thải trừ của doripenem và bị giảm đáng kể khi dùng đồng thời với probenecid, cho thấy doripenem thải trừ thông qua cả lọc cầu thận và bài tiết ở ống thận. Ở người trưởng thành khoẻ mạnh, dùng liều duy nhất 500mg DORIBAX, 71% và 15% liều dùng được tìm thấy trong nước tiểu lần lượt dưới dạng không đổi và chất chuyển hoá mở vòng. Sau khi dùng liều duy nhất 500 mg doripenem được đánh dấu phóng xạ cho người trưởng thành khoẻ mạnh, có ít hơn 1% tổng lượng có hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong phân.
Các quần thể đặc biệt
Bệnh nhân suy thận: Sau khi dùng liều đơn 500 mg DORIBAX, diện tích dưới đường cong AUC tăng lần lượt 1,6, 2,8,và 5,1 lần trên các đối tượng suy thận nhẹ (CrCl 51-79 ml/phút), trung bình (CrCl 31-50 ml/phút), và nặng (CrCl ≤ 30 ml/phút), so sánh với nhóm người khoẻ mạnh cùng lứa tuổi có chức năng thận bình thường (CrCl ≥ 80 ml/phút). Mô phỏng dược động học đã được tiến hành trên các bệnh nhân có sự suy giảm chức năng thận khác nhau để xác định mức liều có thể đạt được tỉ lệ % T > MIC cần thiết và AUC tương tự như ở người có chức năng thận bình thường. Cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận vừa và nặng. (Xem Liều lượng và cách dùng, bệnh nhân suy thận)
Bệnh nhân suy gan: Dược động học của doripenem ở bệnh nhân suy gan chưa được xác định. Vì doripenem không chuyển hóa ở gan, dược động học của DORIBAX được cho là không bị ảnh hưởng ở bệnh nhân suy gan. (Xem Liều lượng và Cách dùng, bệnh nhân suy gan)
Bệnh nhân già/cao tuổi: Ảnh hưởng của tuổi tác đối với dược động học của doripenem đã được đánh giá trên các đối tượng khỏe mạnh, cả nam và nữ, tuổi ≥ 66. AUC của Doripenem tăng 49% trên người cao tuổi, khi so sánh với người trẻ. Sự thay đổi này được giải thích chủ yếu bởi sự thay đổi độ thanh thải creatinine liên quan đến tuổi tác. Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi có chức năng thận bình thường (ở lứa tuổi của họ).
Giới tính: Ảnh hưởng của giới tính đến dược động học của doripenem đã được đánh giá trên người khỏe mạnh, cả nam và nữ. AUD của Doripenem ở nữ cao hơn 13% so với nam. Không cần điều chỉnh liều dựa vào giới tính.
Chủng tộc: Ảnh hưởng của chủng tộc đến dược động học của doripenem được kiểm định thông qua phân tích dược động học quần thể. Không có sự khác biệt đáng kể về độ thanh thải trung bình của doripenem giữa các nhóm chủng tộc khác nhau, vì vậy không cần điều chỉnh liều theo chủng tộc.
Tương tác thuốc: Probenecid cạnh tranh với doripenem trong thải trừ tích cực ở ống thận, vì thế làm giảm độ thanh thải qua thận của doripenem. Probenecid tăng AUC của doripenem khoảng 75% và thời gian bán hủy huyết tương khoảng 53%.
Các nghiên cứu in vitro trên tế bào gan và microsomes gan người cho thấy doripenem không ức chế các isoenzyme chủ yếu của cytochrome P450. Vì vậy, DORIBAX sẽ không ức chế sự chuyển hóa của các chất chuyển hóa theo đường này để có thể gây ảnh hưởng trên lâm sàng.
DORIBAX cũng không gây cảm ứng enzyme gan dựa trên các nghiên cứu in vitro trên tế bào gan người nuôi cấy. Theo dõi sử dụng đồng thời doripenem và valproic acid, nồng độ trong huyết thanh của valproic acid giảm nhanh chóng (nồng độ dưới đường cong giảm đến 63%. Điều này cũng phù hợp với các báo cáo của các trường hợp khi dùng carbapenems khác, nơi nồng độ valproic acid trong huyết thanh giảm khi dùng đồng thời với carbapenem. Sự tương tác này dẫn đến làm giảm dưới mức điều trị của acid valproic ở người tình nguyện khỏe mạnh. Dược lực học của doripenem không bị ảnh hưởng khi dùng đồng thời với acid valproic (Xem Tương tác thuốc).
An toàn tiền lâm sàng
Nguy cơ gây quái thai: Doripenem không gây quái thai, không tác động đến sự cốt hóa của thai nhi hay làm chậm phát triển hay ảnh hưởng lên trọng lượng của thai khi truyền tĩnh mạch với liều 1000 mg/kg/ngày ở chuột và 50 mg/kg/ngày ở thỏ trong giai đoạn hình thành các cơ quan (tính theo AUC, các liều này tương đương ít nhất 2,7 và 0,9 lần liều dùng 500 mg dùng mỗi 8 giờ ở người).
Nguy cơ gây ung thư, đột biến và suy giảm khả năng sinh sản: Vì trên lâm sàng chỉ dùng thuốc trong thời gian ngắn và gián đoạn nên các nghiên cứu về tác dụng gây ung thư khi dùng kéo dài của doripenem không được tiến hành. Doripenem cũng không có đặc tính gây đột biến trong các thử nghiệm chuẩn bao gồm thử nghiệm đột biến đảo nghịch trên vi khuẩn, thử nghiệm làm gãy chromosom với nguyên bào sợi phổi chuột hamster Trung quốc và thử nghiệm vi nhân ở tủy xương chuột nhắt. Doripenem tiêm tĩnh mạch không gây tác dụng bất lợi nào trên khả năng sinh sản nói chung của chuột đực và cái hoặc trên sự phát triển sau khi sinh và chức năng sinh sản của thế hệ F1 ở liều 1g/kg/ngày (tính theo AUC, liều này ít nhất tương đương với liều 500 mg dùng mỗi 8 giờ ở người).
Độc tính và dược lý trên động vật: Tiêm tĩnh mạch doripenem cho chuột trong giai đoạn cuối thai kỳ và trong thời kỳ cho bú với liều 1g/kg/ngày (tính theo AUC, liều này ít nhất tương đương với liều 500 mg dùng mỗi 8 giờ ở người) không gây tác dụng bất lợi nào. Ý nghĩa trên lâm sàng của điều này chưa được xác định.
Không có kinh nghiệm về việc sử dụng DORIBAX trong quá trình chuyển dạ và sinh con.
Sự ức chế gắn kết thụ thể GABA trung ương, liên quan đến tác dụng gây co giật của beta-lactam xác định trên màng synap não chuột nhắt cho thấy cần liều doripenem gấp ít nhất 10 lần liều imipenem, panipenem và cefazolin. Sau khi tiêm trực tiếp vào não thất bên của chuột, doripenem không gây co giật ở liều gấp ít nhất 10 lần liều gây co giật của imipenem, panipenem và cefazolin. Tương tự như vậy, các dữ liệu thu được trên chó và chuột có cấy điện cực đo điện não đồ cho thấy khi tiêm vào não thất hoặc tiêm tĩnh mạch, doripenem có tác dụng gây co giật kém hơn imipenem hay meropenem.