Thuốc được chỉ định cho bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2, đặc biệt đối với bệnh nhân thừa cân, những người không kiểm soát được đường huyết khi điều trị bằng metformin đơn độc ở liều tối đa.
Đặc tính dược lực học:
Phối hợp hai loại thuốc trị tiểu đường:
- Pioglitazon là thuốc chống đái tháo đường thiazolidindion có cơ chế tác dụng phụ thuộc vào sự hiện diện của insulin.
Pioglitazon làm giảm sự đề kháng của insulin trong mạch ngoại biên và gan dẫn đến tăng sử dụng glucose phụ thuộc insulin và làm giảm glucose ở gan.
Không giống như sulfonylurea, pioglitazon không phải là chất kích thích giải phóng insulin. Pioglitazon là chất chủ vận mạnh trên thụ thể gamma hoạt hóa bởi sự sản sinh peroxisom (PPAR);. Thụ thể PPAR được tìm thấy trong các mô quan trọng đối với tác động của insulin như mô mỡ, cơ xương và gan. Sự hoạt hóa thụ thể hạt nhân PPAR điều chỉnh sự sao chép một số gen đáp ứng với insulin có liên quan đến việc kiểm soát chuyển hóa glucose và lipid.
- Metformin hydroclorid: là thuốc chống đái tháo đường nhóm biguanid, làm giảm sự tạo glucose của gan, do đó làm giảm nồng độ glucose trong huyết tương khi đói và sau bữa ăn ở người bệnh đái tháo đường tuýp 2.
Sự phối hợp hai thuốc này làm tăng tác dụng hạ đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2.
Đặc tính dược động học:
Pioglitazon:
Hấp thu:
Sau khi uống lúc đói pioglitazon có thể đo được lần đầu trong huyết thanh trong vòng 30 phút với nồng độ đỉnh đạt được trong vòng 2 giờ. Thức ăn làm chậm nồng độ đỉnh trong huyết thanh từ 3 đến 4 giờ nhưng không làm thay đổi phạm vi hấp thu.
Phân bố:
Thể tích phân bố biểu kiến trung bình (Vd/ F) của pioglitazon sau khi uống liều duy nhất là 0,63 ± 0,41 (giá trị trung bình ± độ lệch) L/ kg thể trọng. Pioglitazon liên kết nhiều (> 99%) với protein trong huyết thanh người, chủ yếu với albumin huyết thanh. Pioglitazon cũng liên kết với các protein huyết thanh khác nhưng với ái lực thấp hơn. Các chất chuyển hóa M - III và M - IV cũng liên kết mạnh (> 99%) với albumin huyết thanh.
Chuyển hóa:
Pioglitazon được chuyển hóa mạnh bằng cách thủy phân và oxy hóa; các chất chuyển hóa cũng được biến đổi một phần thành chất liên hợp glucuronid hoặc sulfat.
Các chất chuyển hóa M - II and M - IV (dẫn xuất hydroxyl của pioglitazon) và M - III (dẫn xuất keton của pioglitazon) có hoạt tính dược lý ở thú vật thử nghiệm tiểu đường tuýp 2. Ngoài pioglitazon, M-III và M-IV là những dạng có liên quan với thuốc chủ yếu được tìm thấy trong huyết thanh người sau nhiều liều dùng
Ở trạng thái bình ổn, cả người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân tiểu đường tuýp 2, pioglitazon chiếm khoảng 30% đến 50% tổng nồng độ đỉnh trong huyết thanh và 20% đến 25% tổng AUC.
Thải trừ:
Sau khi uống, khoảng 15% đến 30% liều dùng pioglitazon được tìm thấy trong nước tiểu. Pioglitazon bài tiết qua thận không đáng kể, thuốc được bài tiết chủ yếu dưới dạng liên hợp hoặc các chất chuyển hóa.
Ước đoán hầu hết các liều uống được bài tiết qua mật nguyên dạng hoặc dưới dạng chất chuyển hóa và thải trừ qua phân.
Nửa đời trung bình trong huyết thanh của pioglitazon và toàn bộ pioglitazon biến thiên từ 3 đến 7 giờ và 16 đến 24 giờ, tùy từng bệnh nhân. Độ thanh thải biểu kiến của pioglitazon, CL/ F, ước tính là 5 đến 7 L/ giờ
Metformin:
- Hấp thu: Sau khi uống, metformin đạt nồng độ đỉnh sau 2,5 giờ. Sinh khả dụng tuyệt đối là khoảng 50 - 60% ở người tình nguyện khỏe mạnh. Khoảng 20 - 30% metformin không được hấp thu, thải trừ qua phân.
- Phân bố: Gắn kết với protein không đáng kể. Thể tích phân bố khoảng 63 - 276 L.
- Chuyển hóa: Metformin không được chuyển hóa trong cơ thể.
- Thải trừ: Độ thanh thải qua thận là > 400 ml/ phút, cho thấy metformin được thải trừ bằng sự lọc ở cầu thận và sự tiết ở ống thận. Thời gian bán thải là khoảng 6,5 giờ. Khi suy thận, thời gian bán thải kéo dài, dẫn đến tăng nồng độ huyết tương của metformin.
QUÁ LIỀU VÀ XỬ TRÍ:
Có bệnh nhân dùng pioglitazon với liều cao hơn liều khuyến cáo tối đa 45 mg/ ngày. Liều cao nhất đã được báo cáo là 120 mg/ ngày trong 4 ngày, sau đó là 180 mg/ ngày trong 7 ngày thì không nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào.
Khi quá liều lượng lớn metformin (hoặc có nguy cơ nhiễm acid lactic) có thể dẫn đến nhiễm acid lactic, cần được điều trị tại bệnh viện.
Phương pháp hiệu quả nhất để loại trừ lactat và metformin là thẩm phân máu.