Hotline: 0971899466 nvtruong17@gmail.com
Thuốc Biệt Dược

Nivolumab

Tên khác: Nivolumab

Tên biệt dược: Nivolumab

2 lượt xem Cập nhật: 03/04/2026

Dược lực

Nivolumab gắn kết với thụ thể PD-1 với độ chọn lọc và ái lực cao. Sau một lần truyền tĩnh mạch ở liều 0,3–10 mg/kg, mức độ chiếm thụ thể PD-1 đạt đỉnh trung bình khoảng 85% trong vòng 4–24 giờ và duy trì ở mức trung bình khoảng 72% khi đạt trạng thái ổn định sau từ 57 ngày trở lên. Khi dùng liều 0,1–10 mg/kg mỗi 2 tuần, tỷ lệ chiếm thụ thể trung bình dao động trong khoảng 64–70%.

Các nghiên cứu in vitro cho thấy Nivolumab có khả năng tăng cường hoạt tính của tế bào T, nhưng không kích hoạt cơ chế gây độc tế bào phụ thuộc kháng thể (ADCC) hay bổ thể (CDC), đồng thời không ảnh hưởng đáng kể đến đáp ứng của tế bào T nhớ đối với nhiều loại kháng nguyên.

Nivolumab được thiết kế dưới dạng kháng thể IgG4 do nhóm isotype này có xu hướng hạn chế hoạt tính ADCC và CDC hơn so với IgG1 (như ipilimumab), qua đó giúp giảm nguy cơ tiêu diệt nhầm các tế bào T đang hoạt động, đồng thời duy trì quần thể tế bào miễn dịch có khả năng chống lại tế bào ung thư.

Tuy vậy, cơ chế ADCC vẫn có thể góp phần trực tiếp vào việc tiêu diệt tế bào ung thư, và vai trò này cần được làm rõ thêm thông qua các nghiên cứu lâm sàng trong tương lai.

Dược động học

Dựa trên dữ liệu dược động học quần thể (PK), khi sử dụng Nivolumab đơn trị với liều từ 0,1–20 mg/kg (dùng một lần hoặc lặp lại mỗi 2–3 tuần), thuốc có độ thanh thải trung bình khoảng 9,5 mL/giờ, thể tích phân bố ở trạng thái ổn định khoảng 8 L và thời gian bán thải trung bình đạt 26,7 ngày.

Nivolumab thể hiện đặc tính dược động học tuyến tính trong khoảng liều 0,1–10 mg/kg, với nồng độ đỉnh trong huyết tương tăng tương ứng theo liều từ ngày 1 đến ngày 14 sau truyền. Khi dùng liều 3 mg/kg mỗi 2 tuần, nồng độ ổn định đạt được sau khoảng 12 tuần, với thời gian bán thải huyết thanh khoảng 12 ngày.

Độ thanh thải của thuốc tăng theo cân nặng, do đó việc điều chỉnh liều dựa trên trọng lượng cơ thể là phù hợp. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về độ thanh thải ở bệnh nhân suy thận hoặc suy gan nhẹ, tuy nhiên chưa có dữ liệu trên đối tượng suy gan mức độ vừa đến nặng.

Ngoài ra, các yếu tố như tuổi, giới tính, chủng tộc, mức biểu hiện PD-L1, loại và kích thước khối u không ảnh hưởng đáng kể đến độ thanh thải của Nivolumab. Nguy cơ tương tác với các thuốc khác, kể cả các chất chuyển hóa qua CYP, được đánh giá là thấp. Ở liều 0,3–10 mg/kg mỗi 3 tuần, thuốc không gây ảnh hưởng đáng kể đến khoảng QTc đã hiệu chỉnh.

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Bình luận của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi hiển thị. Không được chèn link hoặc nội dung spam.

Chưa có bình luận nào

Hãy là người đầu tiên bình luận về nội dung này!

Gọi Zalo Facebook