Liều quy ước bạch cầu dòng hạt cấp; bạch cầu nguyên lymphô bào cấp, bạch cầu nguyên tuỷ bào cấp; tiêm vào khoang nhện để ngừa và trị thâm nhiễm ở TKTW, u lymphô bào an toả. Liều cao: bạch cầu dòng hạt cấp kháng trị, bạch cầu nguyên tuỷ bào mạn chuyển cấp, bạch cầu tái phát, có nguy cơ cao, thứ phát sau hoá trị hay xạ trị, chuyển dạng tiền bạch cầu, u lymphô không Hodgkin kháng trị.
Quá mẫn với thành phần của thuốc. Giảm tế bào máu có bệnh căn không ác tính. Suy gan và/hoặc suy thận nặng, loét dạ dày - ruột, vừa phẫu thuật. Có thai và cho con bú. Người trên 60 tuổi.
Làm thuyên giảm trong bệnh bạch cầu cấp: 100 mg/m2/ngày, truyền IV liên tục x 5 – 10 ngày. Thuyên giảm duy trì 70 - 200 mg/m2/ngày, tiêm IV hoặc SC x 5 ngày mỗi 4 tuần hoặc 1 lần/tuần. U Lymphô bào không Hodgkin người lớn dùng trong đa trị liệu, trẻ em: tùy theo týp bệnh. Liều cao 1 – 3 g/m2 truyền IV trong 1 – 3 giờ, cách quãng 12 giờ x 4 – 6 ngày. Tiêm vào khoang nhện: 5 – 30 mg/m2 1 lần từng 2 – 7 ngày.
Suy tủy, giảm các dòng tế bào máu. Hội chứng tiết không đủ hormon kháng niệu. Giảm Ca máu, tăng acid uric máu. Rối loạn TKTW, thị giác, tim, hô hấp, lồng ngực, trung thất, tiêu hóa và gan mật, da và mô dưới da, cơ xương khớp, thận niệu.
Các thuốc độc tế bào, xạ trị. La-asparaginase. Flucytasine.
Tác dụng phụ Cytarabine
Những phản ứng định trước:
Vì Cytarabine là chất ức chế tủy xương, hậu quả định trước của việc sử dụng thuốc là thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, tăng nguyên hồng cầu khổng lồ và giảm hồng cầu lưới. Mức độ các phản ứng này phụ thuộc liều lượng và phác đồ. Có thể tiên đoán được những thay đổi về hình dạng tế bào trong tủy xương và phết màu ngoại biên.
Sau năm ngày truyền tĩnh mạch hoặc tiêm từ 50mg/m2 đến 600mg/m2, sự ức chế bạch cầu trải qua hai giai đoạn. Không tính số đếm ban đầu, liều lượng, hay phác đồ, bạch cầu bắt đầu giảm trong 24 giờ đầu tiên tới điểm thấp nhất vào ngày 7-9. Sau đó thoáng tăng lên với đỉnh vào khoảng ngày 12. Lần thứ 2 giảm nhiều tới điểm thấp nhất vào ngày 15-24. Trong 10 ngày tiếp sau nhanh chóng tăng lên trên mức căn bản. Sự ức chế tiểu cầu thấy được vào ngày 5 với đỉnh thấp nhất vào giữa ngày 12-15. Trong 10 ngày tiếp theo nhanh chóng tăng lên trên mức căn bản.
Biến chứng nhiễm trùng:
Nhiễm siêu vi, vi khuẩn, vi nấm, ký sinh trùng hay nhiễm vi sinh vật hoại sinh, ở bất cứ vị trí nào của cơ thể, có thể liên quan đến việc sử dụng Cytarabine đơn độc hoặc phối hợp với chất ức chế miễn dịch khác theo sau liều ức chế miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Những nhiễm trùng này có thể nhẹ, có thể nặng và có khi gây tử vong.
Hội chứng Cytarabine:
Hội chứng Cytarabine đã được mô tả. Ðặc điểm của nó là sốt, đau cơ, đau xương, thỉnh thoảng đau ngực, nổi ban dát sẩn, viêm kết mạc và mệt mỏi. Thường xuất hiện 6-12 sau khi dùng thuốc. Corticosteroid hữu ích để trị hay ngừa hội chứng này. Nếu nghĩ rằng triệu chứng có thể chữa được, cần phải nghĩ đến corticosteroid cũng như tiếp tục trị liệu với Cytarabine.
Những phản ứng thường xảy ra nhất:
Chán ăn, rối loạn chức năng gan, buồn nôn, ôn mửa, tiêu chảy, sốt, nổi ban, viêm tắc tĩnh mạch, viêm hay loét miệng và hậu môn.
Buồn nôn và nôn thường xảy ra nhất sau khi tiêm tĩnh mạch.
Những phản ứng phụ ít xảy ra hơn:
Nhiễm độc máu, viêm phổi, viêm mô tế bào tại nơi tiêm đau bụng, loét da, tàn nhang, bí tiểu, vàng da, rối loạn chức năng thận, viêm kết mạc, viêm thần kinh (có thể kèm theo nổi ban), độc tính trên thần kinh, chóng mặt, đau họng, rụng lông tóc, loét thực quản, viêm thực quản phản vệ (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng), viêm thực quản, phù dị ứng, đau ngực, ngứa, nhức đầu, hơi thở ngắn, nổi mề đay.
Trị liệu liều cao:
Phác đồ liều cao Cytarabine (2-3g/m2) có độc tính nặng, đôi khi gây chết, trên hệ thần kinh trung ương, hệ tiêu hóa và phổi (khác với các phản ứng do dùng Cytarabine theo liều qui ước). Những phản ứng nặng này bao gồm:
- Ðộc tính trên giác mạc, và viêm kết mạc xuất huyết, có thể phòng ngừa hay giảm nhẹ bằng thuốc nhỏ mắt corticosteroid.
- Loạn chức năng não và tiểu não như thay đổi nhân cách, mất ngủ và hôn mê, thường hồi phục được.
- Loét đường tiêu hóa nặng, bao gồm: chứng trướng khí nang ruột dẫn tới viêm phúc mạc.
- Nhiễm độc máu và áp xe gan.
- Phù phổi.
- Tổn thương gan kèm theo tăng bilirubin máu.
- Hoại tử ruột.
- Viêm đại tràng hoại tử.
Hai bệnh nhân bạch cầu cấp không thuộc dòng lymphô đã bị bệnh thần kinh vận động và cảm giác ngoại biên sau khi dùng liều cao Cytarabine, daunorubicin và asparaginase. Những bệnh nhân dùng liều cao Cytarabine phải được theo dõi biến chứng thần kinh bởi vì có thể cần thay đổi liều trong phác đồ để tránh những rối loạn thần kinh không hồi phục rất hiếm khi được ghi nhận.
Mười bệnh nhân được thực nghiệm liều trung gian (1g/m2) Cytarabine đơn độc hay phối hợp với hóa dược khác (amsacrine, daunorubicin, etoposide) bị viêm phổi mô kẽ lan tỏa nguyên nhân không rõ ràng có thể là do Cytarabine.
Ðã có báo cáo về trường hợp phát ban không nặng, dẫn đến tróc vẩy da. Rụng lông tóc toàn thân thường thấy ở trị liệu liều cao hơn là với liều Cytarabine chuẩn.
Nếu trị liệu liều cao, không được dùng chất pha loãng có benzyl alcohol.
Bệnh về cơ tim dẫn đến tử vong tăng lên sau khi thực nghiệm liều cao Cytarabine và cyclophosphamide để chuẩn bị ghép tủy xương. Ðiều này có thể phụ thuộc vào liều thuốc.
Hội chứng nguy kịch hô hấp đột ngột, tiến triển nhanh chóng đến phù phổi và tim to rõ rệt trên phim X quang tiếp sau thực nghiệm liều cao Cytarabine để điều trị bệnh bạch cầu tái phát. Ở một trường hợp, hậu quả của hội chứng này là tử vong.
Thận trọng lúc dùng Cytarabine
Chỉ có bác sĩ nhiều kinh nghiệm hóa trị liệu ung thư mới nên dùng Cytarabine.
Trong liệu pháp cảm ứng, bệnh nhân phải được điều trị kèm theo xét nghiệm và đủ biện pháp hổ trợ để theo dõi sự dung nạp thuốc để bảo vệ và duy trì một bệnh nhân bị tổn hại bởi độc tính của thuốc.
Bác sĩ phải cân nhắc ích lợi của thuốc trên bệnh nhân với những tác dụng độc của thuốc trong khi suy xét khả năng thích hợp điều trị của Cytarabine. Trước khi quyết định hay bắt đầu điều trị, bác sĩ phải quen thuộc với thử nghiệm sau đây. Cytarabine là thuốc ức chế tủy xương mạnh. Ðiều trị phải được bắt đầu một cách thận trọng trên bệnh nhân đang bị ức chế tủy xương bởi thuốc. Những bệnh nhân dùng thuốc này phải được giám sát y tế chặt chẽ và suốt thời gian trị liệu cảm ứng, phải được đếm bạch cầu và tiểu cầu hàng ngày. Xét nghiệm tủy xương phải được tiến hành thường xuyên sau khi các nguyên bào không còn trong máu ngoại biên. Phải có các phương tiện thích hợp để xử lý biến chứng, có thể gây chết, của ức chế tủy xương (nhiễm trùng hậu quả của giảm bạch cầu hạt và các tổn thương khác của hệ thống phòng vệ cơ thể, và xuất huyết thứ phát bởi giảm tiểu cầu). Ðã có một trường hợp phản vệ làm ngưng tim phổi cấp tính phải hồi sức cấp cứu, xảy ra ngay sau tiêm tĩnh mạch Cytarabine.
Nếu dùng liệu pháp liều cao, không được sử dụng chất pha loãng chứa benzyl alcohol. Benzyl alcohol có liên quan đến "Hội chứng thở hổn hển" gây chết ở trẻ sinh non. Nhiều nhà lâm sàng đã phục nguyên thuốc bằng sodium chloride 0,9% không chứa chất bảo quản và dùng ngay.
Bệnh nhân dùng Cytarabine phải được theo dõi chặt chẽ. Yêu cầu là phải đếm tiểu cầu và bạch cầu và xét nghiệm tủy xương thường xuyên. Nên nghĩ đến vệc ngưng hoặc thay đổi trị liệu khi sự ức chế tủy xương gây ra đếm tiểu cầu dưới 50.000 hay bạch cầu đa nhân dưới 1000/mm3. Các yếu tố trong máu ngoại biên có thể tiếp tục giảm sau khi ngưng thuốc và đạt trị số thấp nhất sau 12-24 ngày. Nếu có chỉ định, nên khởi sự điều trị lại khi xuất hiện dấu hiệu khẳng định sự phục hồi tủy (qua các xét nghiệm tủy xương liên tiếp).
Những bệnh nhân được ngưng thuốc đến khi trị số máu ngoại biên trở lại "bình thường" có thể thoát khỏi sự kiểm soát.
Viêm tắc tĩnh mạch tại chỗ tiêm hay truyền xảy ra trên một số bệnh nhân, và hiếm có bệnh nhân ghi nhận đau và sưng ở chổ tiêm dưới da. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, thuốc được dung nạp tốt. Khi tiêm tĩnh mạch nhanh liều lớn, bệnh nhân thường buồn nôn và có thể nôn nhiều giờ sau tiêm.
Vấn đề này có vẻ ít trầm trọng hơn khi truyền tĩnh mạch. Gan người giải độc được phần lớn liều cho. Nên thận trọng khi dùng thuốc và ở liều giảm bớt trên bệnh nhân có chức năng gan kém. Phải tiến hành kiểm tra định kỳ về tủy xương, chức năng gan và thận cho bệnh nhân dùng Cytarabine.
Cũng như các thuốc gây độc tế bào khác, Cytarabine có thể gây tăng urê máu thứ phát do ly giải nhanh tế bào ung thư. Bác sĩ phải theo dõi nồng độ acid uric trong máu bệnh nhân và sẳn sàng mọi phương tiện trợ giúp và thuốc men cần thiết để kiểm soát được tình trạng này.
Viêm tụy cấp đã xảy ra trên bệnh nhân dùng Cytarabine phối hợp với các thuốc khác.
Có hai bệnh nhân thời niên thiếu bị bệnh bạch cầu dòng tủy cấp được tiêm trong vỏ và tiêm tĩnh mạch Cytarabine theo liều qui ước, cùng lúc với một số thuốc khác, về sau đã bị liệt tiến triển hướng lên dẫn đến chết một trong hai người.
Hai bệnh nhân được điều trị Cytarabine theo liều qui ước và daunomycin bị đau khi ấn bụng (viêm phúc mạc) và viêm đại tràng guaiac dương tính. Cả hai đã đáp ứng với điều trị bảo tồn. Hai người đều có giảm bạch cầu trung tính và tiểu cầu và được cho dùng nhiều thuốc khác. Các tác giả đề nghị xử trí bảo tồn, thận trọng trên bệnh nhân dùng Cytarabine mà có bụng ngoại khoa, nhưng không thể chẩn đoán ngoại khoa xác định được.
Trong xưởng sản xuất các tác dụng do tiếp xúc nhiều không ghi nhận được. Có thể mắt bị kích thích nhẹ. Tiếp xúc qua da liên tục hay lặp đi lặp lại có thể gây kích thích. Trường hợp có tai bến do tiếp xúc nên rửa sạch vùng chịu ảnh hưởng với nước và xà bông.
Dùng đường tiêm trong vỏ:
Nếu tiêm trong vỏ, không được sử dụng chất pha loãng chứa benzyl alcohol. Nhiều nhà lâm sàng đã phục nguyên thuốc bằng sodium chloride 0,9% không chứa chất bảo quản và dùng ngay.
Cytarabine tiêm trong vỏ có thể gây độc toàn thân và có chỉ định theo dõi kỹ hệ thống tạo huyết cầu. Có thể cần phải thay đổi trong điều trị chống bệnh bạch cầu.
Hiếm có độc tính lớn. Phản ứng thường thấy nhất sau khi tiêm trong vỏ là buồn nôn, nôn và sốt, chúng nhẹ và tự giới hạn. Có báo về tình trạng liệt hai chi dưới. Bệnh chất trắng não hoại tử xuất hiện trên 5 trẻ em; những bệnh nhi này còn được tiêm trong vỏ methotrexate và hydrocortisone, cùng xạ trị hệ thần kinh trung ương. Ðộc tính trên thần kinh riêng lẻ được ghi nhận. Hai bệnh nhân trước đó được hoá trị liệu toàn thân phối hợp, xạ trị phòng ngừa hệ thần kinh trung ương và tiêm trong vỏ Cytarabine bị mù khi bệnh thuyên giảm.
Các ổ thâm nhiễm bạch cầu của hệ thần kinh trung ương có thể không đáp ứng với Cytarabine tiêm trong vỏ và xạ trị có thể cho kết quả tốt hơn.
Tính sinh u, sinh đột biến, tổn thương sinh sản:
Tổn thương rộng lớn nhiễm sắc thể, gồm đứt gãy nhiễm sắc do cytarabine và biến hình ác tính tế bào gậm nhấm trong nuôi cấy đã được quan sát thấy.
Tương kỵ:
Cytarabine được biết là tương kỵ vật lý với heparin, insulin, methetrexate, 5-fluorouracil, nascillin, oxacillin, pelicillin G và methylprednisolone sodium succinate.
Tính ổn định và tương hợp sau khi phục nguyên:
Các nghiên cứu về tính ổn định lý hóa của Cytarabine cho thấy cytarabine bền vững ở nhiệt độ phòng trong 7 ngày khi pha trộn ở nồng độ 0,5mg/ml trong chai thủy tinh IV và túi nhựa IV với: nước để tiêm, dextrose 5% để tiêm, và dung dịch sodium chloride 0,9% để tiêm. Cũng vậy, khi pha trộn tương tự từ 8-32mg/ml trong chai thủy tinh IV và túi nhựa IV, cytarabine bền vững trong 7 ngày ở nhiệt độ phòng, -20 độ C, và 4 độ C trong dung dịch dextrose 5% tiêm; dextrose 5% trong sodium chloride 0,2% để tiêm; và, trong dung dịch sodium chloride 0,9% để tiêm.
Cytarabine bền vững ở nhiệt độ phòng ở nồng độ 2 mg/ml với sự hiện diện của KCl tương đương với 50mEq/500ml trong dextrose 5% và sodium chloride 0,9% cho tới 8 ngày.
Cytarabine bền vững ở nhiệt độ phòng và nhiệt độ tủ lạnh (8 độ C) ở nồng độ 0,2-1,0mg/ml với sự hiện diện của sodium bicarbonate tương đương với 50mEq/L trong dextrose 5% pha trong nước hay dextrose 5% pha trong sodium chloride 0,2% 7 ngày trong chai thủy tinh Travenol hay túi Viaflex.
Tương hợp thuốc:
Cytarabine tương hợp với những thuốc sau, ở nồng độ đặc biệt, trong dextrose 5% pha trong nước trong 8 giờ: Cytarabine 0,8mg/ml và sodium cephalothin 1,0mg/ml; Cytarabine 0,4mg/ml và prednisolone sodium phosphate 0,2mg/ml; cytarabine 16mcg/ml và vincristine sulfate 4mcg/ml.
LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai:
Cytarabine gây quái thai trên vài loại động vật.
Chỉ được sử dụng thuốc này trên phụ nữ đang mang thai hay có thể sắp mang thai sau khi suy xét lợi ích và nguy cơ cho mẹ và con. Phụ nữ có khả năng mang thai phải được khuyên nên tránh có thai.
Bởi vì trị liệu gây độc tế bào có tiềm năng sinh dị tật, nhất là trong 3 tháng đầu, một bệnh nhân đang có thai hay có thể mang thai trong khi dùng Cytarabine phải được báo cho biết nguy cơ đối với thai nhi và tính hợp lý của việc tạm ngưng thai kỳ.
Lúc nuôi con bú:
Người ta chưa biết thuốc có bài tiết vào sữa mẹ không. Bởi vì nhiều loại thuốc bài tiết vào sữa mẹ và khả năng gây phản ứng phụ trầm trọng cho trẻ bú mẹ của cytarabine, cần phải quyết định xem nên thôi cho bú hay ngưng thuốc, căn cứ trên sự quan trọng của thuốc đối với bà mẹ.