Hotline: 0971899466 nvtruong17@gmail.com
Thuốc Biệt Dược
Thuốc Duraject - 60 - Viên nén bao phim - Hình ảnh sản phẩm
Thuốc Duraject - 60 - Ảnh 1
Thuốc Duraject - 60 - Ảnh 2

Duraject - 60

Đã được kiểm duyệt

Thông tin nhanh

Số đăng ký
VN-20722-17
Dạng bào chế
Viên nén bao phim
Lượt xem
10,925
Thành phần
Dapoxetin (dưới dạng Dapoxetin HCl) 60mg
Quy cách đóng gói Hộp 1 vỉ x 4 viên

Thông tin chi tiết về Duraject - 60

Thành phần hoạt chất

1 hoạt chất

Tên hoạt chất Hàm lượng
60mg

Chỉ định

Rilixetin được chỉ định để điều trị xuất tinh sớm ở nam giới trưởng thành, từ 18 đến 64 tuổi.
Rilixetin chỉ nên chỉ định cho những bệnh nhân đáp ứng tất cả các tiêu chí sau:
- Thời gian chờ xuất tinh trong âm đạo ít hơn hai phút.
- Xuất tinh dai dẳng hoặc tái phát với sự kích thích tình dục tối thiểu trước, trong hoặc ngay sau khi thâm nhập và trước khi bệnh nhân có chủ định.
- Cảm giác lo lắng hoặc khó chịu như là hậu quả của xuất tinh sớm.
- Kiểm soát kém việc xuất tinh.
- Tiền sử xuất tinh sớm trong hầu hết các lần giao hợp trong 6 tháng trước.
Rilixetin nên được dùng theo yêu cầu điều trị trước khi sinh hoạt tình dục. Rilixetin không nên được kê đơn để trì hoãn xuất tinh ở nam giới mà không được chẩn đoán với xuất tinh sớm.

DƯỢC LỰC HỌC

Dapoxetine là chất ức chế có chọn lọc serotonin mạnh (SSRI); với IC50 là 1,12 nM, trong khi đó những chất chuyển hóa chính ở người là desmethyl dapoxetine (IC50 <1,0 nM) và didesmethyl dapoxetine (IC50 = 2,0 nM) là tương đương hoặc ít hiệu lực hơn (dapoxetine-N-oxid (IC50 = 282 nM)).
Xuất tinh ở người chủ yếu qua trung gian của hệ thống thần kinh giao cảm. Con đường xuất tinh bắt nguồn từ một trung tâm phản xạ ở tủy sống, qua trung gian của thân não, bị ảnh hưởng đầu tiên bởi một số hạt nhân trong não (nhân trung gian và các hạt nhân cạnh não thất).
Cơ chế tác động của dapoxetine trong xuất tinh sớm được cho là có liên quan đến sự ức chế tái hấp thu tế bào thần kinh serotonin và tiềm lực tiếp theo của hoạt động dẫn truyền thần kinh tại thụ thể trước và sau xináp.
Ở chuột, dapoxetine ức chế sự phản xạ xuất tinh bằng cách tác động một mức độ ở phía trên cột sống trong nhân cạnh não thất (LPGi). Sợi hạch giao cảm trước, phân bố các túi tinh, ống dẫn tinh, tuyến tiền liệt, cơ bắp hành niệu và cổ bàng quang làm cho chúng co lại theo một cách phối hợp với nhau để đạt được sự xuất tinh. Dapoxetine điều biến phản xạ xuất tinh này ở chuột.

DƯỢC ĐỘNG HỌC

Hấp thụ

Dapoxetine được hấp thu nhanh với nồng độ trong huyết tương tối đa (Cmax) xảy ra khoảng 1-2 giờ sau khi uống. Sinh khả dụng tuyệt đối là 42% (khoảng 15-76%), và tăng tỷ lệ phơi nhiễm (AUC và Cmax) quan sát được ở liều 30 và 60 mg. Sau nhiều liều, giá trị diện tích dưới đường cong (AUC) cho cả dapoxetine và các chất chuyển hóa hoạt tính desmethyldapoxetine (DED) sẽ tăng khoảng 50% so với giá trị AUC của liều duy nhất.
Uống thuốc với một bữa ăn với lượng chất béo cao làm giảm  nhẹ Cmax (10%) và tăng nhẹ AUC (12%) của dapoxetine và làm chậm trễ thời gian để dapoxetine đạt nồng độ đỉnh. Những thay đổi này không đáng kể về mặt lâm sàng. Rilixetin có thể uống cùng hoặc không cùng thức ăn.

Phân bố

Hơn 99% dapoxetine  gắn kết với protein huyết thanh người. Khoảng 98,5% chất chuyển hóa hoạt tính desmethyl dapoxetine (DED) gắn kết với protein. Thể tích phân bố của dapoxetine ở trạng thái ổn định là 162 L.

Chuyển hóa

Nghiên cứu in vitro cho thấy dapoxetine được chuyển hóa bởi nhiều hệ thống enzym trong gan và thận, chủ yếu là CYP2D6, CYP3A4, và flavin monooxygenase (FMO1). Sau một liều  14C-dapoxetine, dapoxetine được chuyển hóa rộng rãi thành nhiều chất chủ yếu qua con đường chuyển hóa sinh học sau đây: N-oxy hóa, N-demethyl hóa, naphthyl hydroxyl hóa, glucuronid hóa và sulfat hóa. Đã có bằng chứng về chuyển hóa lần đầu trước tuần hoàn sau khi uống thuốc.
Dạng dapoxetine chưa chuyển hóa và dapoxetine-N-oxid là các gốc thuốc lưu hành chủ yếu trong huyết tương. Nghiên cứu gắn kết và vận chuyển trong in-vitro cho thấy dapoxetine-N-oxid là chất không hoạt tính. Chất chuyển hóa khác bao gồm desmethyldapoxetine và didesmethyldapoxetine chiếm ít hơn 3% trong tổng số những chất liên quan lưu thông trong huyết tương. Những nghiên cứu in vitro cho thấy gắn kết của DED là tương đương với dapoxetine và didesmethyldapoxetine chiếm khoảng 50% hiệu lực của dapoxetine.

Thải trừ

Các chất chuyển hóa của dapoxetine được thải trừ chủ yếu trong nước tiểu dưới dạng liên hợp. Hoạt chất có hoạt tính không thay đổi không được phát hiện trong nước tiểu. Sau khi uống, dapoxetine có thời gian bán thải ban đầu khoảng 1,5 giờ, với nồng độ trong huyết tương ít hơn 5% nồng độ đỉnh trong 24 giờ sau uống, và thời gian bán thải cuối là khoảng 19 giờ. Thời gian bán thải cuối của DED là khoảng 19 giờ.
- Dược động học ở các nhóm người đặc biệt
Chất chuyển hóa DED góp phần vào tác dụng dược lý của Rilixetin, đặc biệt là khi diện tiếp xúc của DED được tăng lên.

Dân tộc

Phân tích của các nghiên cứu dược lý lâm sàng liều duy nhất sử dụng 60 mg dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa người da trắng, da đen, gốc Tây Ban Nha và châu Á. Một nghiên cứu lâm sàng tiến hành để so sánh dược động học của dapoxetine trong các đối tượng người Nhật Bản và da trắng cho thấy mức cao hơn 10% - 20% (AUC và Cmax) của dapoxetine ở người dân Nhật Bản do trọng lượng cơ thể thấp hơn.

Người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên)

Các phân tích của một nghiên cứu lâm sàng liều duy nhất dược sử dụng 60 mg dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong các thông số dược động học (Cmax, AUCinf, Tmax) giữa nam giới lớn tuổi khỏe mạnh và nam thanh niên khỏe mạnh. Tính hiệu quả và an toàn chưa được thhiết lập ở nhóm tuổi này.

Người suy thận

Một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng một liều dapoxetine duy nhất 60 mg đã được tiến hành ở những người có mức độ suy thận nhẹ (CrCl 50-80 ml/phút), mức độ trung bình (CrCl 30 đến <50 ml/phút), và suy thận nặng (CrCl <30 mL/phút) và ở các đối tượng có chức năng thận bình thường (CrCl> 80 ml/phút). Không có xu hướng rõ ràng gia tăng AUC dapoxetine khi chức năng thận suy giảm. AUC ở người suy thận nặng xấp xỉ 2 lần AUC ở các đối tượng có chức năng thận bình thường, mặc dù có những dữ liệu giới hạn ở những bệnh nhân bị suy thận nặng. Dược động học của dapoxetine chưa được đánh giá ở bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo.

Người suy gan

Ở những bệnh nhân bị suy gan nhẹ, Cmax của dapoxetine giảm 28% và AUC không thay đổi. Cmax và AUC của phần hoạt tính (tổng lượng tiếp xúc của dapoxetine và desmethyldapoxetine) giảm 30% và 5%, tương ứng. Ở những bệnh nhân bị suy gan vừa phải, Cmax của dapoxetine về cơ bản không thay đổi (giảm 3%) và AUC tăng 66%. Cmax và AUC của phần hoạt tính tương ứng không thay đổi và tăng gấp đôi.
Ở những bệnh nhân bị suy gan nặng, Cmax của dapoxetine giảm 42% nhưng AUC tăng khoảng 223%. Cmax và AUC của phần hoạt tính thay đổi tương tự.

CYP2D6 đa hình        
                                                                                    
Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng liều duy nhất 60 mg dapoxetine, nồng độ trong huyết tương ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém cao hơn những người có sự chuyển hóa bình thường của CYP2D6 (cao hơn khoảng 31% đối với Cmax và cao hơn 36% đối với AUCinf của dapoxetine và cao hơn 98% đối với Cmax và 161 % cao hơn đối với AUCinf của desmethyldapoxetine). Các phần hoạt tính của dapoxetine có thể tăng lên khoảng 46% với Cmax và khoảng 90% với AUC. Sự gia tăng này có thể dẫn đến một tỷ lệ cao hơn và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ phụ thuộc liều. Tính an toàn của dapoxetine ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém là mối quan tâm đặc biệt với trong việc suy xét điều trị đồng thời các thuốc khác mà có thể ức chế sự chuyển hóa của dapoxetine như những chất ức chế CYP3A4 vừa phải và mạnh.

Chống chỉ định

- Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc - Điều kiện bệnh lý tim đáng kể như: Suy tim (NYHA II-IV) Bất thường dẫn truyền như block nhĩ thất hoặc hội chứng nút xoang Bệnh tim thiếu máu cục bộ Bệnh van tim Có tiền sử ngất. - Tiền sử hưng cảm hoặc trầm cảm nặng. - Dùng đồng thời với các thuốc ức chế enzym monoamin oxidase (MAOIs), hoặc trong vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng điều trị với MAOI. Tương tự như vậy, một hoạt chất MAOI không nên dùng trong vòng 7 ngày sau khi đã ngưng Rilixetin. - Dùng đồng thời với thioridazin, hoặc trong vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng điều trị với thioridazin. Tương tự như vậy, thioridazin không nên dùng trong vòng 7 ngày sau khi ngưng Rilixetin. - Dùng đồng thời với các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin (ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin (SSRI), thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrin (SNRIs), thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs)) hoặc các sản phẩm thảo dược/thuốc khác có tác dụng lên serotonin (ví dụ, L-tryptophan, triptans, tramadol, linezolid, lithium, St. John Wort (Hypericum perforatum)) hoặc trong vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng điều trị với các sản phẩm thuốc/thảo dược này. Tương tự như vậy, các sản phẩm thuốc/thảo dược không nên dùng trong vòng 7 ngày sau khi ngưng Rilixetin. - Điều trị đồng thời với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 như ketoconazol, itraconazol, ritonavir, saquinavir, telithromycin, nefazadon, nelfinavir, atazanavir,... - Suy gan vừa và nặng.

Liều lượng - Cách dùng

- Nam giới trưởng thành (từ 18 tuổi đến 64 tuổi):

Liều khởi đầu khuyến cáo cho tất cả các bệnh nhân là 30 mg, uống khoảng 1-3 giờ trước khi sinh hoạt tình dục. Không nên bắt đầu điều trị bằng Rilixetin với liều 60 mg.
Không nên sử dụng liên tục hàng ngày và chỉ nên dùng khi có dự định sinh hoạt tình dục. Rilixetin không nên dùng thường xuyên hơn một lần cách nhau 24 giờ.
Nếu đáp ứng cá nhân ở liều dapoxetine 30 mg không đủ và các bệnh nhân chưa trải qua phản ứng phụ vừa phải hoặc nặng hay triệu chứng báo hiệu ngất xỉu, liều có thể được tăng lên đến liều tối đa dapoxetine 60 mg và uống khi cần khoảng 1-3 giờ trước hoạt động tình dục. Tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng bất lợi cao hơn khi dùng với liều 60 mg.

Nếu bệnh nhân trải qua phản ứng tư thế vào liều khởi đầu, không được tăng liều đến dapoxetine 60 mg.

Đánh giá cẩn thận nguy cơ và lợi ích cá nhân của Rilixetin nên được thực hiện bởi các bác sĩ sau bốn tuần điều trị đầu tiên (hoặc ít nhất là sau 6 liều điều trị) để xác định xem việc tiếp tục điều trị với Rilixetin là thích hợp hay không.

- Bệnh nhân suy thận

Cần thận trọng ở bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình. Rilixetin được khuyến cáo không dùng cho bệnh nhân suy thận nặng.

- Bệnh nhân suy gan
Rilixetin chống chỉ định ở bệnh nhân suy gan trung bình và nặng.

- Các trường hợp chuyển hóa kém đã được biết của CYP2D6 hoặc bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế CYP2D6 mạnh
Cần thận trọng khi tăng liều đến 60 mg ở những bệnh nhân được biết là chuyển hóa kém CYP2D6 hoặc ở những bệnh nhân điều trị đồng thời với thuốc ức chế CYP2D6 mạnh.
- Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế vừa phải hoặc mạnh CYP3A4
Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 là chống chỉ định. Liều nên được giới hạn 30 mg ở người bệnh được điều trị đồng thời cùng với thuốc ức chế CYP3A4 vừa phải và cần thận trọng.

Cách dùng:

Thuốc sử dụng đường uống, viên nén nên được nuốt toàn bộ để tránh vị đắng, uống ít nhất một ly nước đầy. Rilixetin có thể uống cùng hoặc không có thức ăn.

QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ

Không có trường hợp nào quá liều đã được báo cáo.

Không có biến cố bất lợi trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng của Rilixetin với liều hàng ngày lên đến 240 mg (hai liều 120 mg cách nhau 3 giờ đồng hồ). Nói chung, các triệu chứng của quá liều với SSRIs bao gồm các phản ứng bất lợi qua trung gian serotonin như buồn ngủ, rối loạn tiêu hóa như buồn nôn và nôn, nhịp tim nhanh, run, kích động và chóng mặt.

Trong trường hợp quá liều, các biện pháp hỗ trợ cần được tiến hành theo như yêu cầu. Do sự gắn kết vào protein cao và thể tích phân bố lớn của dapoxetine hydroclorid, gây lợi tiểu bắt buộc, thẩm tách máu, lọc máu hấp phụ và lọc máu không có khả năng mang lại lợi ích. Không có thuốc giải độc đặc trưng cho Rilixetin đã được biết đến.

Tác dụng phụ

- Rất thường xuyên, ADR > 1/10 Rối loạn hệ thống thần kinh: Chóng mặt, đau đầu Rối loạn hệ tiêu hóa: buồn nôn - Thường xuyên, 1/10 ≤ ADR <1/100 Rối loạn tâm thần: Lo âu, kích động, bồn chồn, mất ngủ, giấc mơ bất thường, ham muốn giảm Rối loạn hệ thống thần kinh: Buồn ngủ, rối loạn sự chú ý, run, dị cảm Rối loạn mắt: tầm nhìn mờ Rối loạn tai: ù tai Rối loạn mạch máu: da đỏ ửng do máu tập trung nhiều ở dưới da Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: viêm xoang, ngáp Rối loạn hệ tiêu hóa: Tiêu chảy, nôn, táo bón, đau bụng, đau bụng trên, rối loạn tiêu hóa, đầy hơi, dạ dày khó chịu, bụng trướng, miệng khô Rối loạn da và mô dưới da: tăng tiết mồ hôi Rối loạn hệ thống sinh sản và các tuyến vú: liệt dương Rối loạn chung: mệt mỏi, khó chịu Khảo sát: huyết áp tăng - Ít gặp, 1/1000 ≤ ADR < 1/100 Rối loạn tâm thần: Trầm cảm, tâm trạng chán nản, tâm trạng phấn chấn, tâm trạng thay đổi, căng thẳng, lãnh đạm, thờ ơ, trạng thái lú lẫn, mất định hướng, ý nghĩ bất thường, tăng cảnh giác, rối loạn bất thường về giấc ngủ, chứng mất ngủ ngay từ đầu, chứng mất ngủ vào nữa đêm, ác mộng, nghiến răng, ham muốn tình dục giảm, rối loạn khoái cảm Rối loạn hệ thống thần kinh: Ngất, ngất xỉu phế vị-mạch, chóng mặt tư thế, chứng ngồi không yên, loạn vị giác, ngủ nhiều, ngủ lịm, an thần, giảm ý thức Rối loạn mắt: giãn đồng tử, đau mắt, trở ngại tầm nhìn Rối loạn tai: chóng mặt Rối loạn tim mạch: nghẽn nút xoang, nhịp tim chậm xoang, nhịp tim nhanh Rối loạn mạch máu: hạ huyết áp, tăng huyết áp tâm thu, cảm giác bốc hỏa Rối loạn hệ tiêu hóa: bụng khó chịu, khó chịu vùng thượng vị Rối loạn da và mô dưới da: ngứa, mồ hôi lạnh Rối loạn hệ thống sinh sản và các tuyến vú: xuất tinh thất bại, nam rối loạn cực khoái, dị cảm của sinh dục nam Rối loạn chung: suy nhược, cảm giác nóng, cảm giác bồn chồn, cảm giác bất thường, cảm giác say rượu Khảo sát: tăng nhịp tim, huyết áp tâm trương tăng, huyết áp thế đứng tăng - Hiếm gặp, 1/10000 ≤ ADR < 1/1000 Rối loạn hệ thống thần kinh: chóng mặt sau khi gắng sức, buồn ngủ đột ngột Rối loạn hệ tiêu hóa: đại tiện gấp

Tương tác thuốc

- Ảnh hưởng của các sản phẩm thuốc được dùng điều trị phối hợp lên dược động học của dapoxetine. Trong các nghiên cứu in vitro trong ti lạp thể của gan, thận và ruột người cho thấy dapoxetine được chuyển hóa chủ yếu bởi enzym CYP2D6, CYP3A4 và enzym flavin monooxygenase 1 (FMO1). Vì vậy, các thuốc ức chế các enzym này có thể làm giảm thải trừ dapoxetine. - Các chất ức chế CYP3A4 Các chất ức chế CYP3A4 mạnh. Việc dùng ketoconazole (200 mg hai lần mỗi ngày trong 7 ngày) làm tăng Cmax và AUCinf của dapoxetine (60 mg liều duy nhất) tương ứng với 35% và 99%. Xét về sự đóng góp của dapoxetine và desmethyl dapoxetine, Cmax của phần hoạt tính có thể được tăng lên khoảng 25% và AUC của phần hoạt tính có thể tăng gấp đôi nếu dùng cùng với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4. Sự gia tăng Cmax và AUC của phần hoạt tính có thể được tăng lên rõ rệt trong một bộ phận nhóm tuổi thiếu enzym CYP2D6, tức là, CYP2D6 chuyển hóa kém, hay kết hợp với các chất ức chế mạnh CYP2D6. Vì vậy, sử dụng đồng thời Rilixetin và các chất ức chế mạnh CYP3A4 như ketoconazol, itraconazol, ritonavir, saquinavir, telithromycin, nefazodon, nelfinavir và atazanavir, được chống chỉ định. Các chất ức chế CYP3A4 vừa phải. Dùng đồng thời với các thuốc ức chế CYP3A4 vừa phải (ví dụ, erythromycin, clarithromycin, fluconazol, amprenavir, fosamprenavir, aprepitant, verapamil, diltiazem) cũng có thể dẫn đến tăng đáng kể khả năng tiếp xúc của dapoxetine và desmethyldapoxetine, đặc biệt là ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém. Liều tối đa dapoxetine nên là 30 mg nếu dapoxetine được kết hợp với bất kỳ các thuốc này. - Các chất ức chế CYP2D6 mạnh Cmax và AUCinf của dapoxetine (60 mg liều duy nhất) tăng tương ứng 50% và 88%, trong sự hiện diện của fluoxetin (60 mg/ngày trong 7 ngày). Xem xét sự đóng góp của cả dapoxetine và desmethyldapoxetine, Cmax của phần hoạt tính có thể được tăng lên khoảng 50% và AUC của phần hoạt tính có thể tăng gấp đôi nếu dùng cùng với các thuốc ức chế CYP2D6 mạnh. Sự tăng lên về Cmax và AUC của phần hoạt tính tương tự như những gì được mong đợi ở người có CYP2D6 chuyển hóa kém và có thể dẫn đến một tỷ lệ cao và mức độ nghiêm trọng hơn của các tác dụng phụ phụ thuộc liều. - Các chất ức chế PDE5 Rilixetin không nên được sử dụng ở những bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế PDE5, điều đó có thể là do giảm khả năng chịu giảm huyết áp thế đứng. Dược động học của dapoxetine (60 mg) kết hợp với tadalafil (20 mg) và sildenafil (100 mg) đã được đánh giá trong một nghiên cứu chéo liều duy nhất. Tadalafil không ảnh hưởng đến dược động học của dapoxetine. Sildenafil gây ra những thay đổi nhỏ về mặt dược động học của dapoxetine (tăng 22% trong AUCinf và tăng 4% trong Cmax), điều không mong đợi là có ý nghĩa lâm sàng. Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế PDE5, Rilixetin có thể dẫn đến tụt huyết áp tư thế đứng. Tính hiệu quả và an toàn của Rilixetin ở bệnh nhân bao gồm cả xuất tinh sớm và liệt dương được điều trị đồng thời Rilixetin với thuốc ức chế PDE5 chưa được thành lập. - Ảnh hưởng của dapoxetine trên dược động học của thuốc dùng đồng thời Tamsulosin: Dùng đồng thời liều đơn hoặc đa 30 mg hoặc 60 mg dapoxetine cho bệnh nhân dùng liều hàng ngày của tamsulosin không dẫn đến những thay đổi về dược động học của tamsulosin. Việc bổ sung các dapoxetine cùng với tamsulosin không gây ra một sự thay đổi trong triệu chứng thế đứng và không có sự khác biệt trong triệu chứng thế đứng giữa tamsulosin kết hợp với cả 30 hay 60 mg dapoxetine và tamsulosin một mình. Tuy nhiên, Rilixetin nên được sử dụng một cách thận trọng ở những bệnh nhân sử dụng đối kháng thụ thể alpha adrenergic vì có thể là do khả năng chịu áp thế đứng giảm. Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP2D6: Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày), tiếp theo là một liều 50 mg duy nhất của desipramin làm tăng Cmax trung bình và AUCinf của desipramin khoảng 11% và 19%, tương ứng, so với desipramine được dùng một mình. Dapoxetine có thể dẫn đến tình trạng gia tăng tương tự trong các nồng độ trong huyết tương của các thuốc khác chuyển hóa bởi CYP2D6. Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP3A4: Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) làm giảm AUCinf của midazolam (8 mg liều duy nhất) khoảng 20% ​​(nằm trong khoảng -60 đến + 18%). Sự liên quan lâm sàng về tính hiệu quả lên midazolam có thể sẽ nhỏ trong hầu hết các bệnh nhân. Sự gia tăng trong hoạt tính của CYP3A có thể có liên quan đến lâm sàng ở một số cá nhân dùng điều trị đồng thời bằng thuốc chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A và với một phạm vi điều trị hẹp. Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP2C19: Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ức chế sự chuyển hóa của omeprazol một liều 40 mg duy nhất. Dapoxetine không ảnh hưởng đến dược động học của các chất nền CYP2C19 khác. Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP2C9: Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ảnh hưởng đến dược động học hoặc dược lực học của glyburid một liều 5 mg duy nhất. Dapoxetine không ảnh hưởng đến dược động học của chất nềnCYP2C9 khác. Warfarin và thuốc ảnh hưởng đến đông máu và/hoặc chức năng của tiểu cầu: Không có dữ liệu đánh giá vê tính hiệu quả sử dụng mãn tính của warfarin với dapoxetine; do đó, cần thận trọng khi dùng dapoxetine ở các bệnh nhân dùng warfarin kinh niên. Trong một nghiên cứu dược động học, dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ảnh hưởng đến dược động học hoặc dược lực học (PT hoặc INR) của warfarin sau một liều duy nhất 25 mg. Đã có báo cáo về chảy máu bất thường với SSRIs Ethanol: Dùng đồng thời một liều duy nhất của ethanol, 0,5 g/kg (khoảng 2 ly), không ảnh hưởng đến dược động học của dapoxetine (60 mg liều duy nhất). Tuy nhiên, dapoxetine kết hợp với ethanol làm tăng buồn ngủ và giảm đáng kể sự tỉnh táo. Chỉ số dược lực học của suy giảm nhận thức (Digit Vigilance Speed, Digit Symbol Substitution Test) cũng cho thấy một triệu chứng phụ khi dapoxetine được dùng chung với ethanol. Sử dụng đồng thời chất có cồn và dapoxetine tăng khả năng hoặc mức độ nghiêm trọng của các phản ứng phụ như chóng mặt, buồn ngủ, phản xạ chậm. Kết hợp chất có cồn với dapoxetine có thể làm tăng các tác động liên quan đến chất có cồn và cũng có thể tăng cường tác dụng phụ lên ý thức như mất tạm thời, do đó làm tăng nguy cơ chấn thương do tai nạn. Vì vậy, bệnh nhân nên được khuyên nên tránh uống chất có cồn trong khi đang được điều trị với Rilixetin.

Công dụng Duraject - 60

Rilixetin được chỉ định để điều trị xuất tinh sớm ở nam giới trưởng thành, từ 18 đến 64 tuổi.
Rilixetin chỉ nên chỉ định cho những bệnh nhân đáp ứng tất cả các tiêu chí sau:
- Thời gian chờ xuất tinh trong âm đạo ít hơn hai phút.
- Xuất tinh dai dẳng hoặc tái phát với sự kích thích tình dục tối thiểu trước, trong hoặc ngay sau khi thâm nhập và trước khi bệnh nhân có chủ định.
- Cảm giác lo lắng hoặc khó chịu như là hậu quả của xuất tinh sớm.
- Kiểm soát kém việc xuất tinh.
- Tiền sử xuất tinh sớm trong hầu hết các lần giao hợp trong 6 tháng trước.
Rilixetin nên được dùng theo yêu cầu điều trị trước khi sinh hoạt tình dục. Rilixetin không nên được kê đơn để trì hoãn xuất tinh ở nam giới mà không được chẩn đoán với xuất tinh sớm.

DƯỢC LỰC HỌC

Dapoxetine là chất ức chế có chọn lọc serotonin mạnh (SSRI); với IC50 là 1,12 nM, trong khi đó những chất chuyển hóa chính ở người là desmethyl dapoxetine (IC50 <1,0 nM) và didesmethyl dapoxetine (IC50 = 2,0 nM) là tương đương hoặc ít hiệu lực hơn (dapoxetine-N-oxid (IC50 = 282 nM)).
Xuất tinh ở người chủ yếu qua trung gian của hệ thống thần kinh giao cảm. Con đường xuất tinh bắt nguồn từ một trung tâm phản xạ ở tủy sống, qua trung gian của thân não, bị ảnh hưởng đầu tiên bởi một số hạt nhân trong não (nhân trung gian và các hạt nhân cạnh não thất).
Cơ chế tác động của dapoxetine trong xuất tinh sớm được cho là có liên quan đến sự ức chế tái hấp thu tế bào thần kinh serotonin và tiềm lực tiếp theo của hoạt động dẫn truyền thần kinh tại thụ thể trước và sau xináp.
Ở chuột, dapoxetine ức chế sự phản xạ xuất tinh bằng cách tác động một mức độ ở phía trên cột sống trong nhân cạnh não thất (LPGi). Sợi hạch giao cảm trước, phân bố các túi tinh, ống dẫn tinh, tuyến tiền liệt, cơ bắp hành niệu và cổ bàng quang làm cho chúng co lại theo một cách phối hợp với nhau để đạt được sự xuất tinh. Dapoxetine điều biến phản xạ xuất tinh này ở chuột.

DƯỢC ĐỘNG HỌC

Hấp thụ

Dapoxetine được hấp thu nhanh với nồng độ trong huyết tương tối đa (Cmax) xảy ra khoảng 1-2 giờ sau khi uống. Sinh khả dụng tuyệt đối là 42% (khoảng 15-76%), và tăng tỷ lệ phơi nhiễm (AUC và Cmax) quan sát được ở liều 30 và 60 mg. Sau nhiều liều, giá trị diện tích dưới đường cong (AUC) cho cả dapoxetine và các chất chuyển hóa hoạt tính desmethyldapoxetine (DED) sẽ tăng khoảng 50% so với giá trị AUC của liều duy nhất.
Uống thuốc với một bữa ăn với lượng chất béo cao làm giảm  nhẹ Cmax (10%) và tăng nhẹ AUC (12%) của dapoxetine và làm chậm trễ thời gian để dapoxetine đạt nồng độ đỉnh. Những thay đổi này không đáng kể về mặt lâm sàng. Rilixetin có thể uống cùng hoặc không cùng thức ăn.

Phân bố

Hơn 99% dapoxetine  gắn kết với protein huyết thanh người. Khoảng 98,5% chất chuyển hóa hoạt tính desmethyl dapoxetine (DED) gắn kết với protein. Thể tích phân bố của dapoxetine ở trạng thái ổn định là 162 L.

Chuyển hóa

Nghiên cứu in vitro cho thấy dapoxetine được chuyển hóa bởi nhiều hệ thống enzym trong gan và thận, chủ yếu là CYP2D6, CYP3A4, và flavin monooxygenase (FMO1). Sau một liều  14C-dapoxetine, dapoxetine được chuyển hóa rộng rãi thành nhiều chất chủ yếu qua con đường chuyển hóa sinh học sau đây: N-oxy hóa, N-demethyl hóa, naphthyl hydroxyl hóa, glucuronid hóa và sulfat hóa. Đã có bằng chứng về chuyển hóa lần đầu trước tuần hoàn sau khi uống thuốc.
Dạng dapoxetine chưa chuyển hóa và dapoxetine-N-oxid là các gốc thuốc lưu hành chủ yếu trong huyết tương. Nghiên cứu gắn kết và vận chuyển trong in-vitro cho thấy dapoxetine-N-oxid là chất không hoạt tính. Chất chuyển hóa khác bao gồm desmethyldapoxetine và didesmethyldapoxetine chiếm ít hơn 3% trong tổng số những chất liên quan lưu thông trong huyết tương. Những nghiên cứu in vitro cho thấy gắn kết của DED là tương đương với dapoxetine và didesmethyldapoxetine chiếm khoảng 50% hiệu lực của dapoxetine.

Thải trừ

Các chất chuyển hóa của dapoxetine được thải trừ chủ yếu trong nước tiểu dưới dạng liên hợp. Hoạt chất có hoạt tính không thay đổi không được phát hiện trong nước tiểu. Sau khi uống, dapoxetine có thời gian bán thải ban đầu khoảng 1,5 giờ, với nồng độ trong huyết tương ít hơn 5% nồng độ đỉnh trong 24 giờ sau uống, và thời gian bán thải cuối là khoảng 19 giờ. Thời gian bán thải cuối của DED là khoảng 19 giờ.
- Dược động học ở các nhóm người đặc biệt
Chất chuyển hóa DED góp phần vào tác dụng dược lý của Rilixetin, đặc biệt là khi diện tiếp xúc của DED được tăng lên.

Dân tộc

Phân tích của các nghiên cứu dược lý lâm sàng liều duy nhất sử dụng 60 mg dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa người da trắng, da đen, gốc Tây Ban Nha và châu Á. Một nghiên cứu lâm sàng tiến hành để so sánh dược động học của dapoxetine trong các đối tượng người Nhật Bản và da trắng cho thấy mức cao hơn 10% - 20% (AUC và Cmax) của dapoxetine ở người dân Nhật Bản do trọng lượng cơ thể thấp hơn.

Người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên)

Các phân tích của một nghiên cứu lâm sàng liều duy nhất dược sử dụng 60 mg dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong các thông số dược động học (Cmax, AUCinf, Tmax) giữa nam giới lớn tuổi khỏe mạnh và nam thanh niên khỏe mạnh. Tính hiệu quả và an toàn chưa được thhiết lập ở nhóm tuổi này.

Người suy thận

Một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng một liều dapoxetine duy nhất 60 mg đã được tiến hành ở những người có mức độ suy thận nhẹ (CrCl 50-80 ml/phút), mức độ trung bình (CrCl 30 đến <50 ml/phút), và suy thận nặng (CrCl <30 mL/phút) và ở các đối tượng có chức năng thận bình thường (CrCl> 80 ml/phút). Không có xu hướng rõ ràng gia tăng AUC dapoxetine khi chức năng thận suy giảm. AUC ở người suy thận nặng xấp xỉ 2 lần AUC ở các đối tượng có chức năng thận bình thường, mặc dù có những dữ liệu giới hạn ở những bệnh nhân bị suy thận nặng. Dược động học của dapoxetine chưa được đánh giá ở bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo.

Người suy gan

Ở những bệnh nhân bị suy gan nhẹ, Cmax của dapoxetine giảm 28% và AUC không thay đổi. Cmax và AUC của phần hoạt tính (tổng lượng tiếp xúc của dapoxetine và desmethyldapoxetine) giảm 30% và 5%, tương ứng. Ở những bệnh nhân bị suy gan vừa phải, Cmax của dapoxetine về cơ bản không thay đổi (giảm 3%) và AUC tăng 66%. Cmax và AUC của phần hoạt tính tương ứng không thay đổi và tăng gấp đôi.
Ở những bệnh nhân bị suy gan nặng, Cmax của dapoxetine giảm 42% nhưng AUC tăng khoảng 223%. Cmax và AUC của phần hoạt tính thay đổi tương tự.

CYP2D6 đa hình        
                                                                                    
Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng liều duy nhất 60 mg dapoxetine, nồng độ trong huyết tương ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém cao hơn những người có sự chuyển hóa bình thường của CYP2D6 (cao hơn khoảng 31% đối với Cmax và cao hơn 36% đối với AUCinf của dapoxetine và cao hơn 98% đối với Cmax và 161 % cao hơn đối với AUCinf của desmethyldapoxetine). Các phần hoạt tính của dapoxetine có thể tăng lên khoảng 46% với Cmax và khoảng 90% với AUC. Sự gia tăng này có thể dẫn đến một tỷ lệ cao hơn và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ phụ thuộc liều. Tính an toàn của dapoxetine ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém là mối quan tâm đặc biệt với trong việc suy xét điều trị đồng thời các thuốc khác mà có thể ức chế sự chuyển hóa của dapoxetine như những chất ức chế CYP3A4 vừa phải và mạnh.

Thông tin từ hoạt chất: Dapoxetine

Các thông tin dược lý, dược động học và tác dụng của hoạt chất chính

Dược lực Dapoxetine

Dapoxetine hoạt động bằng cách ức chế vận chuyển serotonin, làm tăng hoạt động của serotonin ở khe hở sau synap, và kết quả là thúc đẩy sự chậm trễ xuất tinh. Là một thành viên của nhóm ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI), dapoxetine ban đầu được tạo ra như một thuốc chống trầm cảm. Tuy nhiên, không giống như các SSRI khác, dapoxetine được hấp thụ và loại bỏ nhanh chóng trong cơ thể.

Chỉ định Dapoxetine

Xuất tinh sớm ở nam giới độ tuổi 18-64 có các triệu chứng:
(a) Xuất tinh dai dẳng và tái phát khi có kích thích tình dục ở mức độ tối thiểu, trước trong hoặc ngay sau khi thâm nhập, trước khi bệnh nhân có chủ định
(b) Cảm giác lo lắng hoặc khó chịu như là hậu quả của xuất tinh sớm
(c) Khó kiểm soát hiện tượng xuất tinh.

Liều dùng Dapoxetine

Khởi đầu 30 mg, uống trước khi quan hệ 1-3 giờ. Nếu không hiệu quả và tác dụng phụ có thể chấp nhận được: có thể tăng tới liều tối đa 60 mg. Liều tối đa khi sử dụng thường xuyên là 1 lần trong 24 giờ.
Cách dùng: Có thể dùng lúc đói hoặc no: Nuốt cả viên thuốc với một ly đầy nước, cùng với thức ăn hoặc không.

Chống chỉ định Dapoxetine

Quá mẫn với thành phần thuốc. Bệnh lý tim mạch mạn tính như suy tim độ II-IV NYHA, block nhĩ thất cấp II-IV hoặc h/c xoang không được điều trị hoặc bệnh nhân đặt máy tạo nhịp, thiếu máu cơ tim rõ rệt, bệnh van tim mạn tính. Dùng đồng thời IMAO hoặc trong vòng 14 ngày kể từ khi ngừng điều trị IMAO & không dùng IMAO trong vòng 7 ngày sau khi ngừng sử dụng thuốc. Dùng đồng thời thioridazine hoặc trong vòng 14 ngày sau khi ngừng sử dụng thioridazine & không dùng thioridazine trong vòng 7 ngày sau khi ngừng thuốc. Dùng đồng thời chất ức chế tái hấp thu serotonin, thuốc chống trầm cảm 3 vòng hay thuốc/thảo dược có tác dụng cường giao cảm hoặc trong vòng 14 ngày sau khi ngừng điều trị các thuốc trên & không dùng những thuốc này trong vòng 7 ngày từ khi ngừng sử dụng thuốc. Dùng đồng thời thuốc ức chế mạnh CYP3A4.

Tương tác Dapoxetine

Thận trọng dùng đồng thời: thuốc tác động lên chức năng tiểu cầu, chế phẩm chống kết tụ tiểu cầu, warfarin, thuốc tác dụng trên hệ thần kinh trung ương.

Tác dụng phụ Dapoxetine

Đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, khó ngủ, mệt mỏi.

Thận trọng lúc dùng Dapoxetine

Bệnh nhân đang dùng thuốc giãn mạch, thuốc ức chế CYP3A4 trung bình (liều thuốc không quá 30mg), chất ức chế mạnh CYP2D6 (khi tăng liều thuốc tới 60mg), thuốc ức chế PDE5, chất ức chế thụ thể alpha andreneric. Bệnh nhân khó chuyển hóa CYP2D6, động kinh được kiểm soát, có tiền sử ưa chảy máu hoặc rối loạn đông máu, suy thận vừa-nhẹ. Bệnh nhân có tiền sử rối loạn cảm xúc hoặc rối loạn lưỡng cực, động kinh không ổn định, rối loạn tâm thần, suy thận nặng, trẻ 18t., phụ nữ: Không sử dụng. Không nên uống rượu. Dấu hiệu tiền triệu (buồn nôn, chóng mặt, nhức đầu, trống ngực, mệt mỏi, lẫn lộn, toát mồ hôi) trong vòng 3 giờ đầu sau khi uống thuốc thường dẫn đến ngất, hoặc đau đầu nhẹ khi đứng dậy sau khi nằm hoặc ngồi thời gian dài. Ngừng sử dụng khi xuất hiện triệu chứng co giật.

Hỗ trợ khách hàng

Hotline: 0971899466

Hỗ trợ 24/7 - Miễn phí tư vấn

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Bình luận của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi hiển thị. Không được chèn link hoặc nội dung spam.

Chưa có bình luận nào

Hãy là người đầu tiên bình luận về nội dung này!

Gọi Zalo Facebook