Thuốc có tác dụng giảm sự sản sinh các chất gây viêm, từ đó làm giảm phản ứng hen, ở người mắc bệnh hen xuyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD);.
* Cơ chế tác dụng của thuốc là sự hiệp đồng tác dụng của hai thành phần Salmeterol và Fluticasone propionate.
Hoạt chất Fluticasone Propionate
Fluticasone propionate là một corticoid trifluorinated tổng hợp có hoạt tính chống viêm mạnh. Các thử nghiệm trên in vitro sử dụng các chế phẩm tế bào phổi của con người đã thiết lập fluticasone propionate như là một chất chủ vận thụ thể glucocorticoid ở người với ái lực gấp 18 lần dexamethasone, gần gấp đôi so với belomethasone-17-monopropionat (BMP), chất chuyển hóa hoạt tính của beclomethasone dipropionate và trên 3 gấp đôi so với budesonit.
Viêm là một thành phần quan trọng trong sinh bệnh học của hen. Corticosteroid đã được chứng minh là ức chế các loại tế bào đa dạng (ví dụ như tế bào mast, bạch cầu ái toan, bạch cầu, bạch cầu, đại thực bào và bạch cầu trung tính) và sự sản sinh trung gian hoặc bài tiết (ví dụ histamine, eicosanoids, leukotrienes, và cytokines) tham gia phản ứng hen. Những hoạt động chống viêm của corticosteroids góp phần hiệu quả trong hen suyễn.
Hoạt chất Salmeterol Xinafoate
Salmeterol là một chất chủ vận trên thụ thể beta 2-adrenergic giúp kéo dài tác dụng giảm có thắt phế quản. Các nghiên cứu in vitro và in vivo chứng minh rằng salmeterol là lựa chọn cho beta2-adrenoceptors so với isoproterenol, có hoạt tính vận chuyển bằng agonist tương đương với beta1 và beta2-adrenoceptors.
Các nghiên cứu in vitro cho thấy salmeterol ít nhất 50 lần có khả năng lựa chọn đối với bênh nhân thụ thể beta2 so với Salbutamol (Albuterol). Mặc dù thụ thể beta2 là thụ thể adrenergic chiếm ưu thế trong cơ trơn phế quản và beta1-adrenoceptors là thụ thể chiếm ưu thế trong tim. Chức năng chính xác của những thụ thể này chưa được xác định, nhưng sự hiện diện của chúng có thể làm tăng khả năng cả các thuốc chủ vận beta2 có chọn lọc có thể có các tác dụng phụ về tim.
Tác dụng dược lý của các thuốc chủ vận thụ thể beta 2-adrenergic, bao gồm salmeterol, ít nhất là một phần do sự kích thích adenyl cyclase nội bào, enzyme xúc tác chuyển đổi adenosine triphosphate (ATP) thành cyclic-3 ', 5'-adenosine monophosphate AMP tuần hoàn).
Mức AMP tuần hoàn tăng làm giãn cơ trướng phế quản và ức chế phóng thích các chất trung gian gây mẫn cảm ngay lập tức từ các tế bào, đặc biệt là từ các tế bào mast.
Các thử nghiệm in vitro cho thấy salmeterol là chất ức chế mạnh và lâu dài cho việc giải phóng các chất trung gian tế bào mast, như histamine, leukotrienes, và prostaglandin D2, từ phổi người. Salmeterol ức chế sự phóng đại protein huyết tương do histamin gây ra và ức chế sự tích lũy eosinophil gây ra tiểu cầu trong phổi của chuột lang khi dùng đường hít.
* Dược động học của thuốc Salmeflo
Hấp thu của thuốc Salmeflo:
Hoạt chất Salmeterol được hấp thụ không đáng kể sau khi hít.
Fluticasone: Không hấp thu được qua đường tiêu hoá, sinh khả dụng đường uống <1%. Sinh khả khả dụng tuyệt đối của fluticasone hít: 5-11% (tùy thuộc vào dụng cụ sử dụng).
Phân bố của thuốc Salmeflo:
Salmeterol có khả năng gắn kết với 96% Protein huyết tương. Fluticasone có khả năng gắn kết với 91% protein huyết tương.
Chuyển hóa của thuốc Salmeflo:
Salmeterol: Chuyển hóa gan bằng cách hydroxyl hóa; thời gian bán hủy khoảng 5,5 giờ.
Fluticasone: Quá trình chuyển hóa lần đầu tiên qua cytochrome CYP3A4.
Thải trừ của thuốc Salmeflo:
Salmeterol: Loại bỏ chủ yếu ở phân; một lượng không đáng kể salmeterol không thay đổi có thể phát hiện được trong nước tiểu hoặc phân.
Fluticasone: Chủ yếu thải ra trong phân thành chất chuyển hóa và thuốc không thay đổi; <5% bài tiết qua nước tiểu.