Hotline: 0971899466 nvtruong17@gmail.com
Thuốc Biệt Dược

Chưa có hình ảnh

Remicade

Đã được kiểm duyệt

Thông tin nhanh

Số đăng ký
VN1-687-12
Dạng bào chế
Bột đông khô pha dung dịch tiêm truyền
Lượt xem
13,693
Thành phần
Quy cách đóng gói Hộp 1 lọ

Thông tin chi tiết về Remicade

Thành phần hoạt chất

1 hoạt chất

Tên hoạt chất Hàm lượng
100mg

Công dụng Remicade

 *Viêm khớp dạng thấp: Remicade được chỉ định để:
• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh
• Ngăn ngừa tổn thương cấu trúc khớp (bào mòn và hẹp khe khớp);
• Cải thiện chức năng vận động 
ở những bệnh nhân có bệnh tiến triển mặc dù đã điều trị với methotrexate (MTX), và những bệnh nhân có bệnh tiến triển nhưng chưa được điều trị với methotrexate.

*Viêm cột sống dính khớp: Remicade được chỉ định để:

• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh
• Cải thiện chức năng vận động
ở những bệnh nhân có bệnh tiến triển.
- Viêm khớp trong bệnh vẩy nến: Remicade được chỉ định để:
• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng viêm khớp
• Cải thiện chức năng vận động
• Giảm bệnh vẩy nến qua đánh giá PASI (một chỉ số kết hợp sự đánh giá triệu chứng với diện tích bề mặt cơ thể)
ở những bệnh nhân viêm khớp do bệnh vẩy nến tiến triển.

*Bệnh vẩy nến: Remicade được chỉ định để:

• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh vẩy nến
• Cải thiện chất lượng cuộc sống
khi điều trị cho bệnh nhân người lớn với bệnh vẩy nến dạng mảng nghiêm trọng cần điều trị toàn thân, và bệnh nhân với bệnh vảy nến trung bình không thích hợp hoặc không hiệu quả với điều trị ánh sáng.

*Bệnh Crohn ở người lớn và trẻ em: Remicade được chỉ định để:

• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh,
• Gây cảm ứng và duy trì sự thuyên giảm bệnh trên lâm sàng,
• Gây cảm ứng quá trình lành niêm mạc ở người lớn
• Cải thiện chất lượng cuộc sống
ở những bệnh nhân bị bệnh Crohn trung bình đến nặng những người không đáp ứng tốt với các điều trị thông thường. Điều trị với Remicade có thể giúp bệnh nhân giảm hoặc ngừng sử dụng corticosteroid.
- Bệnh Crohn có biến chứng lỗ rò: Remicade được chỉ định để:
• Giảm số lượng lỗ rò ruột-da và rò trực tràng-âm đạo và duy trì sự đóng kín đường rò
• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh
• Cải thiện chất lượng cuộc sống
ở những bệnh nhân bị bệnh Crohn có biến chứng lỗ rò.

*Viêm loét ruột kết: Remicade được chỉ định để:

• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh
• Gây cảm ứng và duy trì sự thuyên giảm bệnh trên lâm sàng
• Gây cảm ứng quá trình lành niêm mạc
• Cải thiện chất lượng cuộc sống
• Giảm hoặc ngừng sử dụng các corticosteroid
• Giảm các đợt nhập viện liên quan đến viêm loét ruột kết
ở bệnh nhân viêm loét ruột kết tiến triển chưa đáp ứng tốt với điều trị thông thường.

Tác Động

Infliximab là 1 kháng thể đơn dòng với ADN ghép từ người và chuột (chimeric human-murine monoclonal antibody) có ái lực mạnh gắn với dạng hòa tan và xuyên màng của yếu tố alpha hoại tử u (TNFα), nhưng không gắn với lymphotoxin α (TNFβ). Infliximab ức chế chức năng hoạt động của TNFα trong nhiều thử nghiệm sinh học in vitro khác nhau. Infliximab phòng ngừa bệnh ở những con chuột chuyển đổi gen xuất hiện viêm đa khớp như là kết quả của việc kết hợp với TNFα của người và nếu dùng sau khi bệnh khởi phát sẽ giúp liền các khớp tổn thương. In vivo, infliximab nhanh chóng tạo các phức hợp bền vững với
TNFα của người, quá trình này xảy ra song song với việc mất tác dụng sinh học của TNFα.

Dược lực

Đánh giá mô học của mẫu sinh thiết ruột kết trước và 4 tuần sau khi điều trị với Remicade đã ghi nhận giảm đáng kể lượng TNFα có thể phát hiện được. Dùng Remicade trong điều trị bệnh Crohn cũng làm giảm đáng kể nồng độ protein C phản ứng (CRP) là một chất đánh dấu của hiện tượng viêm thường tăng cao trong huyết thanh. Toàn bộ số lượng bạch cầu ngoại vi bị ảnh hưởng không đáng kể ở bệnh nhân dùng Remicade mặc dù những thay đổi ở lympho bào, đơn bào và bạch cầu trung tính đã phản ánh việc lệch hướng so với giới hạn bình thường. So với bệnh nhân không dùng thuốc, bệnh nhân dùng Remicade không giảm đáp ứng tăng sinh tế bào đơn nhân trong máu ngoại biên đối với các yếu tố kích thích và không có những thay đổi đáng kể trong việc sản xuất cytokine bởi tế bào đơn nhân trong máu ngoại biên bị kích thích. Phân tích tế bào đơn nhân ở lớp
mô liên kết nằm dưới biểu mô (lamina propria) của mẫu sinh thiết niêm mạc ruột đã cho thấy dùng Remicade làm giảm lượng tế bào có khả năng giải phóng TNFα và interferon γ.
Những nghiên cứu mô học bổ sung khác đã cung cấp bằng chứng rằng điều trị với Remicade làm giảm sự thâm nhiễm các tế bào viêm vào những nơi viêm nhiễm ở ruột và sự hiện diện của các chất đánh dấu viêm tại các vùng này.
Nồng độ TNFα tăng cao tại các khớp của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và tương quan với tiến triển bệnh. Tăng nồng độ TNFα cũng được tìm thấy tại dịch/mô khớp và tại tổn thương da ở bệnh nhân viêm khớp do bệnh vẩy nến. Trong viêm khớp dạng thấp, điều trị với Remicade làm giảm thâm nhiễm các tế bào viêm vào các vùng bị viêm của khớp, cũng như làm giảm biểu lộ các phân tử gây kết dính tế bào, giảm hóa hướng động và thoái hóa mô. Sau khi dùng Remicade, so với trước khi điều trị, bệnh nhân có biểu hiện giảm nồng độ interleukin 6 (IL-6) và CRP trong huyết thanh. Hơn nữa, bạch cầu trong máu ngoại biên không giảm về số lượng hoặc về đáp ứng tăng sinh đối với sự kích thích tạo phân bào in vitro khi so với tế bào của bệnh nhân không dùng thuốc này. Ở bệnh nhân có bệnh vẩy nến, điều trị với infliximab làm giảm tình trạng viêm ở biểu bì và sự bình thường hóa quá trình biệt hóa của các tế bào sừng tại các mảng vẩy nến.

Dược động học

Truyền tĩnh mạch Remicade đơn liều 1, 3, 5, 10 hoặc 20 mg/kg làm tăng nồng độ tối đa trong huyết thanh (Cmax) và diện tích dưới đường biểu diễn nồng độ theo thời gian (AUC) tương ứng với liều dùng. Thể tích phân phối ở trạng thái ổn định (trung vị của Vd là 3-4.1lít) không phụ thuộc vào liều dùng và cho thấy Remicade được phân phối chủ yếu trong mạch máu. Theo quan sát, các đặc tính dược động học không phụ thuộc vào thời gian. Chưa mô tả được những con đường đào thải Remicade. Không có khác biệt quan trọng về độ thanh thải hoặc thể tích phân phối ở các phân nhóm bệnh nhân tính theo tuổi, thể trọng hoặc chức năng thận hoặc chức năng gan. Cũng không ghi nhận bất kỳ khác biệt đáng kể về những thông số dược động học đơn liều giữa bệnh nhân trẻ em và người lớn bị bệnh Crohn.
Với liều duy nhất 3, 5, và 10 mg/kg, các giá trị dược động học trung bình đối với Cmax tương ứng là 77, 118 và 277 mcg/ml. Thời gian bán thải cuối cùng trung bình tại những liều này là 8 đến 9.5 ngày. Ở hầu hết các bệnh nhân, có thể phát hiện infliximab trong huyết thanh ít nhất trong 8 tuần sau khi truyền liều duy nhất.
Với phác đồ dùng 3 liều, có sự tích lũy nhẹ infliximab trong huyết thanh sau khi dùng liều thứ hai và sau đó không có thêm sự tích lũy liên quan đến lâm sàng. Trong đa số bệnh nhân bị bệnh Crohn có lỗ rò, đã xác định infliximab trong huyết thanh tại tuần thứ 12 (từ 4-28 tuần) sau khi dùng thuốc.

Thông tin chi tiết về Remicade

Chỉ định

 *Viêm khớp dạng thấp: Remicade được chỉ định để:
• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh
• Ngăn ngừa tổn thương cấu trúc khớp (bào mòn và hẹp khe khớp);
• Cải thiện chức năng vận động 
ở những bệnh nhân có bệnh tiến triển mặc dù đã điều trị với methotrexate (MTX), và những bệnh nhân có bệnh tiến triển nhưng chưa được điều trị với methotrexate.

*Viêm cột sống dính khớp: Remicade được chỉ định để:

• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh
• Cải thiện chức năng vận động
ở những bệnh nhân có bệnh tiến triển.
- Viêm khớp trong bệnh vẩy nến: Remicade được chỉ định để:
• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng viêm khớp
• Cải thiện chức năng vận động
• Giảm bệnh vẩy nến qua đánh giá PASI (một chỉ số kết hợp sự đánh giá triệu chứng với diện tích bề mặt cơ thể)
ở những bệnh nhân viêm khớp do bệnh vẩy nến tiến triển.

*Bệnh vẩy nến: Remicade được chỉ định để:

• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh vẩy nến
• Cải thiện chất lượng cuộc sống
khi điều trị cho bệnh nhân người lớn với bệnh vẩy nến dạng mảng nghiêm trọng cần điều trị toàn thân, và bệnh nhân với bệnh vảy nến trung bình không thích hợp hoặc không hiệu quả với điều trị ánh sáng.

*Bệnh Crohn ở người lớn và trẻ em: Remicade được chỉ định để:

• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh,
• Gây cảm ứng và duy trì sự thuyên giảm bệnh trên lâm sàng,
• Gây cảm ứng quá trình lành niêm mạc ở người lớn
• Cải thiện chất lượng cuộc sống
ở những bệnh nhân bị bệnh Crohn trung bình đến nặng những người không đáp ứng tốt với các điều trị thông thường. Điều trị với Remicade có thể giúp bệnh nhân giảm hoặc ngừng sử dụng corticosteroid.
- Bệnh Crohn có biến chứng lỗ rò: Remicade được chỉ định để:
• Giảm số lượng lỗ rò ruột-da và rò trực tràng-âm đạo và duy trì sự đóng kín đường rò
• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh
• Cải thiện chất lượng cuộc sống
ở những bệnh nhân bị bệnh Crohn có biến chứng lỗ rò.

*Viêm loét ruột kết: Remicade được chỉ định để:

• Giảm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh
• Gây cảm ứng và duy trì sự thuyên giảm bệnh trên lâm sàng
• Gây cảm ứng quá trình lành niêm mạc
• Cải thiện chất lượng cuộc sống
• Giảm hoặc ngừng sử dụng các corticosteroid
• Giảm các đợt nhập viện liên quan đến viêm loét ruột kết
ở bệnh nhân viêm loét ruột kết tiến triển chưa đáp ứng tốt với điều trị thông thường.

Tác Động

Infliximab là 1 kháng thể đơn dòng với ADN ghép từ người và chuột (chimeric human-murine monoclonal antibody) có ái lực mạnh gắn với dạng hòa tan và xuyên màng của yếu tố alpha hoại tử u (TNFα), nhưng không gắn với lymphotoxin α (TNFβ). Infliximab ức chế chức năng hoạt động của TNFα trong nhiều thử nghiệm sinh học in vitro khác nhau. Infliximab phòng ngừa bệnh ở những con chuột chuyển đổi gen xuất hiện viêm đa khớp như là kết quả của việc kết hợp với TNFα của người và nếu dùng sau khi bệnh khởi phát sẽ giúp liền các khớp tổn thương. In vivo, infliximab nhanh chóng tạo các phức hợp bền vững với
TNFα của người, quá trình này xảy ra song song với việc mất tác dụng sinh học của TNFα.

Dược lực

Đánh giá mô học của mẫu sinh thiết ruột kết trước và 4 tuần sau khi điều trị với Remicade đã ghi nhận giảm đáng kể lượng TNFα có thể phát hiện được. Dùng Remicade trong điều trị bệnh Crohn cũng làm giảm đáng kể nồng độ protein C phản ứng (CRP) là một chất đánh dấu của hiện tượng viêm thường tăng cao trong huyết thanh. Toàn bộ số lượng bạch cầu ngoại vi bị ảnh hưởng không đáng kể ở bệnh nhân dùng Remicade mặc dù những thay đổi ở lympho bào, đơn bào và bạch cầu trung tính đã phản ánh việc lệch hướng so với giới hạn bình thường. So với bệnh nhân không dùng thuốc, bệnh nhân dùng Remicade không giảm đáp ứng tăng sinh tế bào đơn nhân trong máu ngoại biên đối với các yếu tố kích thích và không có những thay đổi đáng kể trong việc sản xuất cytokine bởi tế bào đơn nhân trong máu ngoại biên bị kích thích. Phân tích tế bào đơn nhân ở lớp
mô liên kết nằm dưới biểu mô (lamina propria) của mẫu sinh thiết niêm mạc ruột đã cho thấy dùng Remicade làm giảm lượng tế bào có khả năng giải phóng TNFα và interferon γ.
Những nghiên cứu mô học bổ sung khác đã cung cấp bằng chứng rằng điều trị với Remicade làm giảm sự thâm nhiễm các tế bào viêm vào những nơi viêm nhiễm ở ruột và sự hiện diện của các chất đánh dấu viêm tại các vùng này.
Nồng độ TNFα tăng cao tại các khớp của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và tương quan với tiến triển bệnh. Tăng nồng độ TNFα cũng được tìm thấy tại dịch/mô khớp và tại tổn thương da ở bệnh nhân viêm khớp do bệnh vẩy nến. Trong viêm khớp dạng thấp, điều trị với Remicade làm giảm thâm nhiễm các tế bào viêm vào các vùng bị viêm của khớp, cũng như làm giảm biểu lộ các phân tử gây kết dính tế bào, giảm hóa hướng động và thoái hóa mô. Sau khi dùng Remicade, so với trước khi điều trị, bệnh nhân có biểu hiện giảm nồng độ interleukin 6 (IL-6) và CRP trong huyết thanh. Hơn nữa, bạch cầu trong máu ngoại biên không giảm về số lượng hoặc về đáp ứng tăng sinh đối với sự kích thích tạo phân bào in vitro khi so với tế bào của bệnh nhân không dùng thuốc này. Ở bệnh nhân có bệnh vẩy nến, điều trị với infliximab làm giảm tình trạng viêm ở biểu bì và sự bình thường hóa quá trình biệt hóa của các tế bào sừng tại các mảng vẩy nến.

Dược động học

Truyền tĩnh mạch Remicade đơn liều 1, 3, 5, 10 hoặc 20 mg/kg làm tăng nồng độ tối đa trong huyết thanh (Cmax) và diện tích dưới đường biểu diễn nồng độ theo thời gian (AUC) tương ứng với liều dùng. Thể tích phân phối ở trạng thái ổn định (trung vị của Vd là 3-4.1lít) không phụ thuộc vào liều dùng và cho thấy Remicade được phân phối chủ yếu trong mạch máu. Theo quan sát, các đặc tính dược động học không phụ thuộc vào thời gian. Chưa mô tả được những con đường đào thải Remicade. Không có khác biệt quan trọng về độ thanh thải hoặc thể tích phân phối ở các phân nhóm bệnh nhân tính theo tuổi, thể trọng hoặc chức năng thận hoặc chức năng gan. Cũng không ghi nhận bất kỳ khác biệt đáng kể về những thông số dược động học đơn liều giữa bệnh nhân trẻ em và người lớn bị bệnh Crohn.
Với liều duy nhất 3, 5, và 10 mg/kg, các giá trị dược động học trung bình đối với Cmax tương ứng là 77, 118 và 277 mcg/ml. Thời gian bán thải cuối cùng trung bình tại những liều này là 8 đến 9.5 ngày. Ở hầu hết các bệnh nhân, có thể phát hiện infliximab trong huyết thanh ít nhất trong 8 tuần sau khi truyền liều duy nhất.
Với phác đồ dùng 3 liều, có sự tích lũy nhẹ infliximab trong huyết thanh sau khi dùng liều thứ hai và sau đó không có thêm sự tích lũy liên quan đến lâm sàng. Trong đa số bệnh nhân bị bệnh Crohn có lỗ rò, đã xác định infliximab trong huyết thanh tại tuần thứ 12 (từ 4-28 tuần) sau khi dùng thuốc.

Chống chỉ định

• Không dùng Remicade cho những bệnh nhân đã biết quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc hoặc với các protein có nguồn gốc từ chuột. • Chống chỉ định dùng Remicade ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng, như bệnh lao, nhiễm khuẩn, áp-xe và nhiễm khuẩn cơ hội. • Chống chỉ định dùng Remicade ở những bệnh nhân suy tim trung bình hoặc nặng (Độ III/IV theo NYHA) (xem Chú ý đề phòng và Tác dụng ngoại ý). Lúc có thai và lúc nuôi con bú Bởi vì REMICADE không có phản ứng chéo với chất ức chế TNFα của các loài khác người và tinh tinh, nghiên cứu sinh sản trên động vật chưa được thực hiện với REMICADE. Không có bằng chứng về độc tính cho mẹ, cho phôi hay gây quái thai được quan sát thấy trong một nghiên cứu về độc tính của thuốc được tiến hành ở chuột bằng cách sử dụng một kháng thể tương tự ức chế chọn lọc hoạt động chức năng TNFα của chuột. Liều dùng từ 10 đến 15 mg/kg trong các mô hình dược-lực học trên động vật với các kháng thể chống TNFα được sản xuất với hiệu quả dược lý tối đa. Trong các nghiên cứu ảnh hưởng lên khả năng sinh sản của động vật, liều dùng lên đến 40 mg/kg cho thấy không làm tăng tác dụng phụ. Người ta không biết liệu REMICADE có thể gây nguy hiểm cho thai khi dùng cho phụ nữ mang thai hoặc có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản hay không. Vì thế, REMICADE nên được dùng cho phụ nữ mang thai và cho con bú chỉ khi thật sự cần thiết. Giống như các kháng thể IgG khác, REMICADE đi qua nhau thai và đã được phát hiện trong huyết thanh của trẻ sơ sinh cho đến 6 tháng tuổi khi điều trị REMICADE cho bệnh nhân trong thời kỳ mang thai. Do đó, những trẻ này có thể tăng nguy cơ nhiễm trùng, và cần thận trọng trong việc sử dụng các loại vắc-xin sống ở những trẻ này (xem thêm Chú ý đề phòng). Chưa rõ liệu Remicade có bài tiết vào sữa người mẹ hoặc được hấp thu toàn thân ở trẻ bú mẹ hay không. Do nhiều chất và globulin miễn dịch được bài tiết vào sữa mẹ và do nguy cơ xuất hiện tác dụng bất lợi ở trẻ bú mẹ nên cần quyết định ngừng cho con bú ít nhất 6 tháng sau khi ngừng dùng Remicade, cân nhắc đến tầm quan trọng của thuốc đối với người mẹ.

Liều lượng & Cách dùng

Remicade được chỉ định dùng đường tĩnh mạch cho bệnh nhân người lớn (≥ 18 tuổi) đối với tất cả các chỉ định và bệnh nhi từ 6 đến 17 tuổi với bệnh Crohn. Điều trị với Remicade nên được giám sát bởi bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp do bệnh vẩy nến hoặc bệnh viêm ruột. Nên truyền tĩnh mạch trong 2 giờ. Nên theo dõi tác dụng phụ ở tất cả bệnh nhân ít nhất 1 giờ sau khi truyền Remicade. Phải có sẵn thuốc, ống nội khí quản và các dụng cụ thích hợp khác để điều trị các tác dụng phụ này. Có thể truyền thuốc với tốc độ chậm nhằm giảm nguy cơ xảy ra phản ứng liên quan đến truyền dịch, đặc biệt khi bệnh nhân đã có các phản ứng liên quan đến truyền dịch trước đây (xem Chú ý đề phòng). * Viêm khớp dạng thấp: Khởi đầu truyền tĩnh mạch 3 mg/kg trong 2 giờ, sau đó truyền các liều bổ sung 3 mg/kg vào tuần thứ 2 và tuần thứ 6 kể từ lần truyền đầu tiên, rồi mỗi 8 tuần về sau. Sau 22 tuần điều trị, có thể tăng liều đến 10 mg/kg nếu cần. Nên dùng Remicade kết hợp với methotrexate. * Viêm cột sống dính khớp: Truyền tĩnh mạch 5 mg/kg trong 2 giờ, sau đó truyền các liều bổ sung 5 mg/kg vào tuần thứ 2 và tuần thứ 6 kể từ lần truyền đầu tiên, rồi mỗi 6-8 tuần về sau. * Viêm khớp trong bệnh vẩy nến: Truyền tĩnh mạch 5 mg/kg trong 2 giờ, sau đó truyền các liều bổ sung 5 mg/kg vào tuần thứ 2 và tuần thứ 6 kể từ lần truyền đầu tiên, rồi mỗi 8 tuần về sau. * Bệnh vẩy nến: Truyền tĩnh mạch 5 mg/kg trong 2 giờ, sau đó truyền các liều bổ sung 5 mg/kg vào tuần thứ 2 và tuần thứ 6 kể từ lần truyền đầu tiên, rồi mỗi 8 tuần về sau. * Bệnh Crohn vừa đến nặng ở người lớn: Để kiểm soát triệu chứng lâu dài tối ưu, khởi đầu truyền tĩnh mạch một liều duy nhất 5 mg/kg trong 2 giờ vào tuần 0, 2 và 6 rồi điều trị duy trì liều 5 mg/kg mỗi 8 tuần về sau. Có thể cân nhắc để tăng liều đến 10 mg/kg ở những bệnh nhân đáp ứng chưa tốt trong giai đoạn điều trị duy trì. Một cách khác, khởi đầu truyền tĩnh mạch 5 mg/kg trong 2 giờ, sau đó lặp lại liều 5 mg/kg truyền tĩnh mạch khi dấu hiệu và triệu chứng bệnh tái phát; tuy nhiên, có ít dữ liệu về khoảng cách giữa hai lần dài hơn 16 tuần. * Bệnh Crohn ở trẻ em: Truyền tĩnh mạch 5 mg/kg, sau đó truyền liều bổ sung 5 mg/kg vào tuần thứ 2 và tuần thứ 6 kể từ lần truyền đầu tiên, rồi mỗi 8 tuần về sau. Có thể cân nhắc để tăng liều đến 10 mg/kg ở những bệnh nhân chưa đáp ứng tốt. Nên dùng Remicade cùng với các thuốc điều biến miễn dịch, gồm 6-mercaptopurine (6-MP), azathioprine (AZA) hoặc methotrexate (MTX). * Bệnh Crohn có biến chứng rò ở người lớn: Truyền tĩnh mạch 5 mg/kg trong 2 giờ, sau đó truyền liều bổ sung 5 mg/kg vào tuần thứ 2 và tuần thứ 6 kể từ lần truyền đầu tiên để điều trị các đường rò trong bệnh Crohn. Không nên dùng thêm infliximab nếu bệnh nhân không đáp ứng sau 3 liều điều trị. Phác đồ điều trị tiếp theo: • Truyền bổ sung 5 mg/kg mỗi 8 tuần hoặc • Khi các dấu hiệu và triệu chứng tái xuất hiện, truyền 5 mg/kg mỗi 8 tuần (xem phần ‘Tái điều trị’ dưới đây và Chú ý đề phòng). Kinh nghiệm dùng lại thuốc khi tái phát các dấu hiệu và triệu chứng trong bệnh Crohn còn hạn chế và còn thiếu dữ liệu so sánh về lợi ích/nguy cơ của những phác đồ thay thế để điều trị liên tục. * Viêm loét ruột kết: Truyền tĩnh mạch 5 mg/kg trong 2 giờ, sau đó truyền bổ sung 5 mg/kg vào tuần thứ 2 và thứ 6 sau lần truyền đầu tiên, rồi mỗi 8 tuần về sau. Có thể chỉnh liều đến 10 mg/kg ở một số bệnh nhân nhằm duy trì đáp ứng và thuyên giảm bệnh trên lâm sàng. * Tái điều trị trong bệnh Crohn và viêm khớp dạng thấp: Nếu tái phát các dấu hiệu và triệu chứng, có thể dùng lại Remicade trong vòng 16 tuần sau lần truyền cuối cùng. Tái điều trị infliximab dạng bào chế khác sau 2 đến 4 năm không dùng thuốc đã gây phản ứng quá mẫn muộn ở 10 bệnh nhân bị bệnh Crohn (xem Chú ý đề phòng và Tác dụng ngoại ý "Phản ứng quá mẫn muộn"). Vẫn chưa biết nguy cơ phản ứng quá mẫn muộn sau 16 tuần đến 2 năm không dùng thuốc. Do đó không nên tái điều trị sau 16 tuần không dùng thuốc. * Tái điều trị trong viêm loét ruột kết: Ngoài việc dùng thuốc mỗi 8 tuần, hiện chưa có dữ liệu ủng hộ việc tái sử dụng thuốc. * Tái điều trị trong viêm cột sống dính khớp: Ngoài việc dùng thuốc mỗi 6-8 tuần, hiện chưa có dữ liệu ủng hộ việc tái sử dụng thuốc. * Tái điều trị trong viêm khớp do bệnh vẩy nến: Ngoài việc dùng thuốc mỗi 8 tuần, hiện chưa có dữ liệu ủng hộ việc tái sử dụng thuốc. * Tái điều trị trong bệnh vẩy nến: Ngoài việc dùng thuốc mỗi 8 tuần, hiện chưa có dữ liệu ủng hộ việc tái sử dụng thuốc. Chuẩn bị và sử dụng: 1. Tính liều cần dùng và số lọ Remicade. Mỗi lọ Remicade chứa 100 mg infliximab. Tính tổng thể tích cần dùng của dung dịch Remicade đã pha. 2. Mỗi lọ Remicade được pha với 10 ml nước pha tiêm, sử dụng bơm tiêm với kim cỡ 21 (0.8 mm) hoặc kim nhỏ hơn. Sau khi pha, mỗi ml dung dịch chứa 10 mg infliximab. Tháo nắp của lọ thuốc và lau sạch nút cao su bằng gạc thấm cồn 70%. Đâm kim tiêm vào lọ xuyên qua tâm nút cao su và bơm nước pha tiêm hướng vào thành lọ thuốc. Xoáy dung dịch nhẹ nhàng bằng cách xoay lọ để hòa tan bột đông khô. Tránh khuấy kéo dài hoặc khuấy mạnh dung dịch. KHÔNG ĐƯỢC LẮC. Dung dịch sau khi pha có bọt là bình thường. Để yên dung dịch đã pha trong 5 phút. Kiểm tra sự đổi màu của dung dịch từ vàng nhạt sang trắng đục. Dung dịch có thể xuất hiện vài phần tử trong mờ mịn vì infliximab là 1 protein. Không dùng thuốc nếu xuất hiện các phần tử trắng đục, hoặc dung dịch đổi màu hoặc có các phần tử lạ. 3. Pha loãng toàn bộ thể tích dung dịch Remicade đã hoàn nguyên với dung dịch natri clorid 0.9% khối lượng/thể tích (w/v) thành 250 ml dung dịch truyền tĩnh mạch. Pha loãng bằng cách từ một túi hoặc chai 250 ml dịch truyền natri cloride 0.9% w/v, rút một thể tích dung dịch natri clorid 0.9% w/v tương ứng với thể tích dung dịch Remicade đã pha. Bơm chậm toàn bộ thể tích dung dịch Remicade đã pha vào chai hoặc túi truyền 250 ml. Trộn nhẹ. 4. Truyền dung dịch trong thời gian ít nhất 2 giờ (tốc độ truyền không quá 2 ml/phút). Sử dụng bộ truyền với bộ lọc có dây vô khuẩn, không gây sốt, ít gắn kết protein (kích thước lỗ lọc ≤ 1.2 micromet). Do không chứa chất bảo quản nên phải sử dụng dung dịch truyền sớm trong vòng 3 giờ sau khi pha. Nếu quá trình pha và pha loãng được tiến hành trong điều kiện vô khuẩn nghiêm ngặt thì có thể sử dụng trong vòng 24 giờ nếu bảo quản từ 2ºC-8°C. Không lưu giữ hoặc tái sử dụng phần dung dịch còn thừa. 5. Chưa tiến hành nghiên cứu đánh giá tính tương thích vật lý-sinh hóa khi sử dụng Remicade cùng với các thuốc khác. Không truyền Remicade cùng một đường truyền tĩnh mạch với các thuốc khác. 6. Kiểm tra bằng mắt trước khi tiêm xem có vật lạ hoặc đổi màu dung dịch hay không. Không dùng thuốc nếu thấy các phần tử trắng đục, đổi màu dung dịch hoặc các phần tử lạ. 7. Hủy bỏ phần dịch chưa sử dụng. Cách dùng Truyền tĩnh mạch.

Tác dụng ngoài ý muốn

Phát ban, ngứa, nổi mày đay, tăng tiết mồ hôi, khô da, viêm da do nấm/nấm móng, chàm/tăng tiết bã nhờn, rụng tóc. Đau đầu, chóng mặt/choáng váng. Buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng, khó tiêu, hẹp ruột, nôn, táo bón. Nhiễm trùng đường hô hấp (bao gồm cả viêm phổi), khó thở, viêm xoang, viêm màng phổi, phù phổi. Mệt mỏi, đau ngực, phù, nóng bừng mặt, đau, ớn lạnh/rét run. Nhiễm virus, sốt, áp xe, viêm mô tế bào, bệnh monilia (candida), phản ứng giống sarcoid. Đau cơ, đau khớp. Cơn bốc hỏa, huyết khối tĩnh mạch, bầm máu/khối tụ máu. Tăng HA, hạ HA. Thiếu máu, giảm bạch cầu, bệnh lý hạch lympho, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu. Mất ngủ, ngủ gà. Tăng men gan, bất thường chức năng gan. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Viêm kết mạc. Đánh trống ngực, nhịp tim chậm. Phản ứng tại chỗ tiêm truyền. Sản xuất tự kháng thể. U lympho. Mất thị giác thoáng qua (trong khi truyền hoặc trong vòng 2 giờ truyền). Tai biến mạch máu não, thiếu máu cục bộ cơ tim/nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim (trong vòng 24 giờ từ khi truyền). H/c lupus và giống lupus. U lympho tế bào T thể gan lách, u ác tính ở trẻ em, bệnh bạch cầu, u hắc sắc tố, carcinoma tế bào Merkel, ung thư cổ tử cung. Bệnh phổi kẽ, bao gồm xơ hóa phổi/viêm phổi kẽ. Tổn thương tế bào gan, viêm gan, vàng da, viêm gan tự miễn, suy gan. Viêm mạch máu, vẩy nến, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử thượng bì nhiễm độc, hồng ban đa dạng.

Tương tác thuốc

Liệu pháp sinh học khác, bao gồm anakinra và abatacept. Vaccin sống, tác nhân làm lây nhiễm.

Thông tin về hoạt chất: Infliximab

Thuốc này chứa hoạt chất Infliximab. Để biết thêm thông tin chi tiết về cơ chế tác dụng, dược lực học, dược động học của hoạt chất này, vui lòng xem:

Xem chi tiết hoạt chất Infliximab

Hỗ trợ khách hàng

Hotline: 0971899466

Hỗ trợ 24/7 - Miễn phí tư vấn

Sản phẩm cùng hoạt chất

1 sản phẩm

Các sản phẩm có cùng thành phần hoạt chất với Remicade

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Bình luận của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi hiển thị. Không được chèn link hoặc nội dung spam.

Chưa có bình luận nào

Hãy là người đầu tiên bình luận về nội dung này!

Gọi Zalo Facebook