Hotline: 0971899466 nvtruong17@gmail.com
Thuốc Biệt Dược

Chưa có hình ảnh

Losiral 2,5mg

Đã được kiểm duyệt

Thông tin nhanh

Số đăng ký
VN-5010-07
Dạng bào chế
Viên nén bao phim
Lượt xem
1,175
Thành phần
Quy cách đóng gói Hộp 3 vỉ x 10 viên

Thông tin công ty

Thông tin chi tiết về Losiral 2,5mg

Thành phần hoạt chất

1 hoạt chất

Tên hoạt chất Hàm lượng
-

Chỉ định

Điều trị ung thư vú tiến triển ở phụ nữ sau mãn kinh, đã thất bại khi điều trị bằng tamoxifen hoặc các thuốc kháng oestrogen khác.

Điều trị ung thư vú xâm nhiễm sớm ở phụ nữ sau mãn kinh đã được điều trị bằng tamoxifen trước đó. 

Điều trị trước phẫu thuật giữ nhũ hoa cho phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú dương tính với receptor hormon.

Đặc tính dược lực học:

Letrozol là chất ức chế enzym aromatase không steroid (ức chế sinh tổng hợp oestrogen); và là chất kháng ung thư.

Đặc tính dược động học:

Hấp thu: Letrozol được hấp thu nhanh và hoàn toàn từ đường tiêu hóa, sinh khả dụng tuyệt đối khoảng 99,9%. Thức ăn làm giảm nhẹ tốc độ hấp thu, tuy nhiên tỷ lệ thuốc được hấp thu không thay đổi.

Phân bố: Letrozol gắn kết protein huyết tương khoảng 60%, chủ yếu là gắn kết với albumin (55%). Nồng độ của letrozol trong hồng cầu khoảng 80% nồng độ trong huyết tương. Letrozol được phân bố nhanh và rộng đến các mô. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định là khoảng 1,87 + 0,47 L/ kg.

Chuyển hóa và thải trừ: Chất chuyển hóa chính là carbinol không có hoạt tính sinh học.

Ở người tình nguyện khỏe mạnh, 2 tuần sau khi uống 2,5 mg letrozol có đánh dấu 14C, khoảng 88% được tìm thấy trong nước tiểu và 4% tìm thấy trong phân. Có ít nhất 75% được tìm thấy trong nước tiểu sau 216 giờ ở dạng glucuronid của chất chuyển hóa carbinol, khoảng 9% ở dạng hai chất chuyển hóa khác và 6% ở dạng letrozol chưa biến đổi.

Tuổi tác không có ảnh hưởng đến dược động học của letrozol. 

Chống chỉ định

Bệnh nhân mẫn cảm với letrozol hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc. Phụ nữ tiền mãn kinh, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú. Bệnh nhân suy gan nặng. Không sử dụng letrozol trước phẫu thuật nếu tình trạng receptor là âm tính hoặc không biết rõ.

Liều lượng - Cách dùng

Thuốc chỉ dùng cho người lớn

Người lớn và người cao tuổi:

Liều khuyến nghị của letrozol là 2,5 mg x 1 lần/ ngày.

Trong điều trị hỗ trợ, nên dùng letrozol liên tục trong 5 năm hoặc dùng cho đến khi khối u tái phát, tùy trường hợp nào đến trước.

Sau liệu trình tamoxifen chuẩn, điều trị bằng letrozol nên tiếp tục trong 3 năm hoặc cho đến khi khối u tái phát, tùy trường hợp nào đến trước.

Vì không có đủ dữ liệu khi dùng dài hạn, nên không có thời gian sử dụng tối ưu.

Ở bệnh nhân di căn, dùng letrozol liên tục cho đến khi sự tiến triển khối u trở nên rõ rệt.

Điều trị trước phẫu thuật: thường xuyên kiểm tra tiến triển của bệnh.

Không cần điều chỉnh liều cho người cao tuổi.

Bệnh nhân suy gan và/ hoặc suy thận:

Không cần điều chỉnh liều dùng cho bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc vừa phải.

Không cần điều chỉnh liều dùng cho bệnh nhân suy thận (thanh thải creatinin ≥ 10 ml/ phút).

Thông báo cho thầy thuốc các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

QUÁ LIỀU - XỬ TRÍ:

Không có kinh nghiệm lâm sàng về dùng quá liều. Ở động vật, letrozol có độc tính cấp rất thấp. Trên lâm sàng, khi dùng letrozol chưa thấy các triệu chứng đe dọa mạng sống.

Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Nói chung, áp dụng biện pháp điều trị triệu chứng, hỗ trợ thể trạng bệnh nhân khi cần.

Tác dụng phụ

Các tác dụng không mong muốn thường ở mức độ nhẹ hoặc vừa phải, hầu hết là do thiếu oestrogen. Rất thường gặp (ADR ≥ 10%): Đau khớp, đỏ bừng mặt. Thường gặp (1% ≤ ADR < 10%): Chán ăn, thèm ăn, tăng cholesterol huyết thanh, suy nhược thần kinh, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa, rối loạn tiêu hóa, táo bón, tiêu chảy, rụng tóc, tăng tiết mồ hôi, nổi mẩn đỏ, đau cơ, đau xương, loãng xương, nứt xương, mệt mỏi, phù ngoại vi, tăng trọng. Không thường gặp (0,1% ≤ ADR < 1%): Nhiễm trùng đường tiểu, đau khối u, phù, mệt mỏi, mất ngủ, giảm trí nhớ, loạn xúc giác, loạn vị giác, tai biến mạch máu não, đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, viêm tĩnh mạch huyết khối, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, khó thở, ho, đau bụng, viêm lưỡi, khô miệng, ngứa, khô da, nổi mày đay, viêm khớp, tiểu nhiều lần, xuất huyết âm đạo, có huyết trắng, khô âm đạo, đau vú, khô niêm mạc, khát nước, giảm cân. Hiếm gặp (0,01% ≤ ADR < 0,1%): Nghẽn mạch phổi, huyết khối, thiếu máu não.

Tương tác thuốc

- Trên lâm sàng, letrozol không có tương tác đáng kể với cimetidin, benzodiaepin, barbiturat, các thuốc kháng viêm không steroid, paracetamol, furosemid, omeprazol. - Không có kinh nghiệm sử dụng phối hợp letrozol với các thuốc kháng ung thư khác.

Công dụng Losiral 2,5mg

Điều trị ung thư vú tiến triển ở phụ nữ sau mãn kinh, đã thất bại khi điều trị bằng tamoxifen hoặc các thuốc kháng oestrogen khác.

Điều trị ung thư vú xâm nhiễm sớm ở phụ nữ sau mãn kinh đã được điều trị bằng tamoxifen trước đó. 

Điều trị trước phẫu thuật giữ nhũ hoa cho phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú dương tính với receptor hormon.

Đặc tính dược lực học:

Letrozol là chất ức chế enzym aromatase không steroid (ức chế sinh tổng hợp oestrogen); và là chất kháng ung thư.

Đặc tính dược động học:

Hấp thu: Letrozol được hấp thu nhanh và hoàn toàn từ đường tiêu hóa, sinh khả dụng tuyệt đối khoảng 99,9%. Thức ăn làm giảm nhẹ tốc độ hấp thu, tuy nhiên tỷ lệ thuốc được hấp thu không thay đổi.

Phân bố: Letrozol gắn kết protein huyết tương khoảng 60%, chủ yếu là gắn kết với albumin (55%). Nồng độ của letrozol trong hồng cầu khoảng 80% nồng độ trong huyết tương. Letrozol được phân bố nhanh và rộng đến các mô. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định là khoảng 1,87 + 0,47 L/ kg.

Chuyển hóa và thải trừ: Chất chuyển hóa chính là carbinol không có hoạt tính sinh học.

Ở người tình nguyện khỏe mạnh, 2 tuần sau khi uống 2,5 mg letrozol có đánh dấu 14C, khoảng 88% được tìm thấy trong nước tiểu và 4% tìm thấy trong phân. Có ít nhất 75% được tìm thấy trong nước tiểu sau 216 giờ ở dạng glucuronid của chất chuyển hóa carbinol, khoảng 9% ở dạng hai chất chuyển hóa khác và 6% ở dạng letrozol chưa biến đổi.

Tuổi tác không có ảnh hưởng đến dược động học của letrozol. 

Thông tin từ hoạt chất: Letrozole

Các thông tin dược lý, dược động học và tác dụng của hoạt chất chính

Dược lực Letrozole

Letrozole là chất ức chế men aromatase không có cấu trúc steroid. Nó ức chế men aromatase bằng cách gắn với men sắc tố tế bào P450 của men, dẫn đến sự giảm sinh tổng hợp estrogen trong mọi mô.

Dược động học Letrozole

- Hấp thu: Letrozole được hấp thu nhanh và hoàn toàn từ đường tiêu hoá. Sinh khả dụng tuyệt đối trung bình: 99,9%. Thức ăn làm giảm nhẹ tỷ lệ hấp thu nhưng mức hấp thu (AUC - Diện tích dưới đường cong nồng độ) không thay đổi. Letrozole có thể dùng trước, trong hoặc sau bữa ăn. - Phân bố: Nó ức chế men aromatase bằng cách gắn với men sắc tố tế bào P450 của men, dẫn đến sự giảm sinh tổng hợp estrogen trong mọi mô. Gắn kết protein huyết thanh của letrozole vào khoảng 60%, chủ yếu là với albumin (55%). Nồng độ của letrozole trong hồng cầu bằng khoảng 80% letrozole ở trong huyết tương. - Chuyển hoá và đào thải: Việc thải trừ bằng cách chuyển hóa thành carbinol là một sản phẩm chuyển hóa không có hoạt tính là con đường thải trừ chính của letrozole (CLm = 2,1 lít/giờ) nhưng tương đối chậm so với lượng máu tại gan (khoảng chừng 90 lít/giờ). Dược động học trên những bệnh cảnh lâm sàng đặc biệt: Tuổi tác không ảnh hưởng đến dược động học của letrozole. Suy thận: Trong một nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân tình nguyện với các mức độ suy thận (hệ số thanh thải creatinine 24 giờ là 9-116ml/ phút), dược động học của letrozole không thay đổi sau khi dùng một liều đơn 2,5mg. Ngoài ra, bệnh nhân ung thư vú tiến triển, người ta đã xác định không có ảnh hưởng chức năng suy thận (theo tính toán hệ số thanh thải của creatinine là 20-50ml/phút) trên nồng độ của letrozole. Suy gan: Trong một nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân với các mức độ suy gan khác nhau, các giá trị AUC của bệnh nhân tình nguyện với mức độ suy gan vừa phải (Child-Pugh score B) cao hơn 37% so với bệnh nhân không suy gan, nhưng nó vẫn nằm trong khoảng các giá trị của bệnh nhân không suy gan.

Tác dụng Letrozole

Sự triệt tiêu quá trình kích thích phát triển khối u nhờ vai trò trung gian của estrogen là điều kiện tiên quyết để tạo được đáp ứng của khối u trong những trường hợp mà sự phát triển của tổ chức khối u phụ thuộc vào sự hiện diện của estrogen. Ở phụ nữ đã mãn kinh, estrogen chủ yếu được tổng hợp nhờ hoạt động của enzyme aromatase, có tác dụng chuyển các androgen thượng thận - chủ yếu là androstenedione và testosterone - thành estrone (E1) và estradiol (E2). Quá trình ức chế sự tổng hợp estrogen ở các mô ngoại biên và tại bản thân khối u có thể đạt được nhờ sự ức chế đặc hiệu enzyme aromatase. Letrozole là một chất ức chế aromatase non-steroid có chọn lọc. Thuốc ức chế enzyme aromatase bằng cách gắn kết cạnh tranh với thành phần haem của thành phần sắc tố tế bào P450 của enzyme này, làm giảm quá trình sinh tổng hợp estrogen ở tất cả các mô.

Chỉ định Letrozole

Ðiều trị tiền phẫu thuật và trị liệu đầu tay trong ung thư vú di căn ở phụ nữ đã mãn kinh. Ðiều trị ung thư vú di căn tiến triển ở phụ nữ mãn vẫn có tình trạng đáp ứng receptor oestrogen hoặc progesterone dương tính, hoặc tình trạng không đáp ứng receptor oestrogen hoặc progesterone, trên những bệnh nhân mãn kinh tự nhiên hay nhân tạo.

Liều dùng Letrozole

Người lớn và người già: Liều dùng khuyến cáo với Letrozole là 2,5mg dùng hàng ngày. Thuốc có thể uống bất kể lúc nào không cần tránh các bữa ăn. Ðiều trị với Letrozole cần được tiếp tục cho tới khi khối u có bằng chứng ổn định rõ rằng. Không cần điều chỉnh liều đối với người già. Liều dành cho bệnh nhân suy gan và/hoặc suy thận: Không cần điều chỉnh liều cho những bệnh nhân suy gan hoặc suy thận (hệ số thanh thải creatinine > 10ml/phút). Trẻ em: Letrozole không được dùng cho trẻ em.

Chống chỉ định Letrozole

Quá mẫn với thành phần của thuốc. Tình trạng chưa mãn kinh. Có thai, nuôi con bú.

Tương tác Letrozole

Letrezole có ái lực thấp đối với CYP 3A4, chất này chiếm 30% cytochrome P450 isoenzymes gan. Trong khi letrozole không có tác động đến các thuốc được chuyển bởi CYP 3A4, những thuốc này lại gây biến đổi sinh học letrozole do CYP 3A4. Trong thử nghiệm in vitro, letrozole ức chế cytochrome P450 isoenzymes 2A6 và, với phạm vi nhỏ hơn, 2C19. Do vậy phải cẩn thận khi dùng chung với những thuốc có chỉ số điều trị hẹp mà những thuốc này chủ yếu phụ thuộc vào các isoenzymes trên. CYP 2A6 không đóng vai trò chính trong chuyển hoá thuốc. Trong thử nghiệm in vitro letrozole không có khả năng ức chế chất chuyển hoá của diazepam (chất nền của CYP 2C19) ở nồng độ cao xấp xỉ 100 lần so với nồng độ thuốc trong huyết tương quan sát thấy ở nồng độ ổn định. Do vậy không thể có tương tác lâm sàng với CYP 2C19. Các nghiên cứu về tương tác trên lâm sàng với cimetidine và warfarin cho thấy việc sử dụng đồng thời Letrozole với các thuốc trên không gây ra tương tác đáng kể trên lâm sàng. Việc dùng phối hợp Letrozole và tamoxifen (20mg/ngày), làm nồng độ letrozole trong huyết tương giảm xuống trung bình là 38%. Letrozole thì không gây ảnh hưởng đến nồng độ của tamoxifen trong huyết tương. Thêm nữa, trong một công trình nghiên cứu lâm sàng, không có bằng chứng về tương tác lâm sàng với các thuốc thông thường được kê toa. Hiện chưa có tài liệu nghiên cứu lâm sàng về sử dụng Letrozole kết hợp với các thuốc chữa ung thư khác.

Tác dụng phụ Letrozole

Trong các nghiên cứu lâm sàng, tác dụng phụ thường ở mức nhẹ tới vừa và hiếm khi nặng tới mức phải ngừng điều trị. Rất nhiều tác dụng ngoại ý có thể được xem là do căn bệnh chính hay là kết quả thông thường của tác dụng ức chế (làm giảm thiểu) estrogen (ví dụ như nóng bừng, thưa tóc).

Thận trọng lúc dùng Letrozole

Suy thận: Letrozole hiện chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân có hệ số thanh thải cretinine thấp hơn 10ml/phút. Cần cân nhắc kỹ các yếu tố nguy cơ/lợi ích cho bệnh nhân trước khi điều trị Letrozole. Suy gan: Bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh score C), ngấm thuốc toàn thân và thời gian bán hủy xấp sỉ cao gấp hai lần so với bệnh nhân không có suy gan. Tuy nhiên những bệnh nhân này cần được kiểm tra chặt chẽ. Chưa có kinh nghiệm lâm sàng đối với những liều nhắc lại. Các tác động tới khả năng lái xe và vận hành máy móc: Letrozole không làm ảnh hưởng tới khả năng của bệnh nhân về lái xe và vận hành máy móc. Tuy vậy, mệt mỏi và chóng mặt đã được ghi nhận khi dùng Letrozole. Người bệnh cần được thông báo rằng khả năng về thể chất và/hoặc tinh thần cần thiết trong việc điều hành máy móc hay lái xe có thể bị ảnh hưởng. LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ Chuột cống mẹ sau khi được điều trị bằngletrozole thì tăng nhẹ tỷ lệ dị dạng ở bào thai chột con. Tuy nhiên, chưa thể xác định được nguyên nhân gây quái thai do nguyên nhân gián tiếp thay đổi đặc điểm dược lý (ức chế sinh tổng hợp oestrogen) hoặc do chính tác động của letrozole. Những quan sát tiền lâm sàng còn hạn chế hiểu biết về tác động dược lý của thuốc. Vấn đề an toàn sử dụng thuốc trên người chỉ lấy từ số liệu nghiên cứu trên động vật. Do đó Letrozole không được chỉ định ở phụ nữ có thai và cho con bú.

Bảo quản Letrozole

Bảo quản dưới 30 độ C.

Hỗ trợ khách hàng

Hotline: 0971899466

Hỗ trợ 24/7 - Miễn phí tư vấn

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Bình luận của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi hiển thị. Không được chèn link hoặc nội dung spam.

Chưa có bình luận nào

Hãy là người đầu tiên bình luận về nội dung này!

Gọi Zalo Facebook