Cây địa hoàng là một cây thuốc quý. Địa hoàng là cây thảo, sống nhiều năm, cao 30 – 40cm. Toàn cây có lông. Rễ phình lên thành củ. Lá có lông. Lá mọc tập trung ở gốc, phiến lá hình trứng ngược, gốc thuôn, đầu tròn, mép khía răng cưa tròn, gân lá hình mạng lưới nổi rõ ở mặt dưới.
Hoa hình ống, màu tên đỏ, mọc thành chùm trên một cuống dài. Quả nang, chứa nhiều hạt nhỏ.
Mùa hoa quả: Tháng 4-7
Phân bố:
Địa hoàng là cây được di thực và trồng nhiều Ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và Thanh Hóa, Bắc Giang,...
Bộ phận dùng làm thuốc
Bộ phận dùng làm thuốc của cây Địa hoàng là rễ củ (tươi hoặc khô);.
– Dùng tươi (Tiên địa hoàng);
– Dùng khô (Sinh địa hoàng).
Thu hái
Thu hái một năm hai vụ: Đông xuân và hạ. Đào lấy củ, dùng tươi hay phơi sấy khô.
Mô tả dược liệu
Dược liệu sinh địa hoàng đã được ghi trong Dược điển Việt Nam (2002).
Từ sinh địa hoàng, có thể cho 4 vị dược liệu quý như sau.
- Tiên địa hoàng: là rễ sinh địa tươi. Tiên địa hoàng có vỏ ngoài mỏng, màu vàng, đỏ cam, giống như củ cà rốt. Theo YHCT, tiên địa hoàng có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, quy vào các kinh tâm, can, thận. Dùng tốt cho các bệnh mang tính nhiệt như sốt cao, đôi khi phát cuồng, mê sảng... hoặc các chứng bệnh tiêu khát, ban chẩn, táo trệ, xuất huyết... Tiên địa hoàng thái mỏng, nấu cháo ăn, hoặc giã nát lấy dịch tươi, uống, hoặc sắc lấy nước uống, ngày 50 - 100ml, uống 2 lần trước bữa ăn.
4 dược liệu quý từ sinh địa hoàng 1
- Can địa hoàng: là tiên địa hoàng sấy nhẹ cho khô. Theo YHCT, can địa hoàng cũng có vị ngọt, tính hàn, quy vào kinh tâm, can, thận. Can địa hoàng có thể dùng cho các chứng bệnh huyết hư gây nóng sốt, các trường hợp xuất huyết: nôn ra máu, chảy máu cam, băng kinh, băng huyết, kinh nguyệt không đều, động thai... Ngày dùng 12 - 24g dạng thuốc sắc, chia 2 - 3 lần, trước bữa ăn. Uống nhiều ngày cho đến khi các triệu chứng thuyên giảm.
- Sinh địa: là tiên địa hoàng sấy khô, vỏ màu xám, ruột màu vàng nâu. Theo YHCT, sinh địa có vị đắng, tính hàn - lương, quy kinh tâm, can, thận, tiểu tràng. Với công năng thanh nhiệt, lương huyết, dưỡng âm, sinh tân dịch. Tác dụng để loại các tà nhiệt đã nhập vào phần dinh, phần huyết, gây sốt cao, phát cuồng mê sảng, miệng khát, lưỡi đỏ tâm phiền, các chứng âm hư hỏa vượng, trào nhiệt. Thường được phối hợp với các vị thuốc khác: sinh địa, thục địa, nhân sâm, hoàng kỳ, chích cam thảo, thiên môn, mạch môn, tỳ bà diệp, thạch hộc, trạch tả, chỉ xác, đồng lượng, bào chế dạng bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 9 - 12g với nước sôi để nguội, trước hoặc sau bữa ăn 1 - 2 giờ...
- Thục địa: là sinh địa qua chưng hoặc nấu với phụ liệu là gừng tươi, rượu, hoặc gừng tươi, rượu và sa nhân. Theo YHCT, thục địa có vị ngọt, tính ấm, quy kinh tâm, can, thận. Có tác dụng tư âm, dưỡng huyết, dùng trong các trường hợp thiếu máu, da xanh xao, gầy yếu... hoặc khi cơ thể khô háo do âm hư, hoặc chức năng thận âm kém: thục địa 16g, sơn thù du 8g, mẫu đơn bì, trạch tả, phục linh, hoài sơn, mỗi vị 6g sắc uống để trị đau đầu, ù tai, lưng, gối đau mỏi, di mộng tinh, ra nhiều mồ hôi... Hoặc từ phương thuốc này, thêm quế nhục, phụ tử (chế), mỗi vị 3g để trị các chứng dương hư với biểu hiện đau lưng, liệt dương, tảo tiết, tiểu tiện lượng nhiều, hai chân luôn có cảm giác lạnh lẽo.
Thành phần hóa học.
Theo các nhà nghiên cứu Nhật bản và Triều tiên, trong Sanh địa có các chất Manit (C6H8(OH)6), rehmanin là một glucozit, glucoza và ít caroten.
Các tác giả Trung quốc cho rằng trong Sanh địa có ancaloit.
Tác dụng dược lý
Chống viêm: Trên thực nghiệm, nước sắc Sinh địa có tác dụng chống viêm.
Tác dụng hạ đường huyết rõ rệt trên súc vật: thực nghiệm có đường huyết cao, cũng có thể làm cho đường huyết bình thường của thỏ hạ thấp,
Thuốc có tác dụng cường tim, hạ áp, cầm máu, bảo vệ gan, lợi tiểu, chống phóng xạ, chống nấm.
Thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch kiểu cocticoit nhưng không làm ức chế hoặc teo tuyến thượng thận. Thực nghiệm đã chứng minh Sinh địa và Thục địa có thể làm giảm tác dụng ức chế chức năng vỏ tuyến thượng thận của cocticoit.
Tính vị:
Vị ngọt, đắng và tính hàn.
Qui kinh:
Tâm, can và thận.